1. Trang chủ
  2.  › 
  3. Hỏi đáp pháp luật
  4.  › 
  5. Hỏi đáp Lao động
  • Yêu cầu thanh toán lương trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật

    • 15/02/2019
    • Luật sư Dương Châm
    • Kính chào luật sư Cháu tên là X sinh năm 1996. Hien cháu ở Bình Dương. Cháu có một câu hỏi Làm thế nào để đòi quyền lợi trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật? rất mong luật sư tư vấn giúp cháu. Cách đây 2 tháng cháu có xin vào một công ty may mặc làm lao động phổ thông. Thời gian thử việc của cháu là 3 tháng.

     

    Cách đây nửa tháng gia đình báo tin bố cháu mất cháu phải về quê tận Thanh Hóa để chịu tang. Cháu có xin công ty thì cty cho cháu nghi 3 ngày. Nhưng do không sắp xếp được việc nhà cháu đã nghỉ quá thời gian công ty cho phép là nghỉ thêm 3 ngày nữa.

    Khi cháu vào công ty thì bị công ty cho nghỉ việc nhưng lại không được thanh toán tiền lương với số ngày là 18 ngày làm việc. Công ty nói là cháu đã vi phạm quy định của công ty xem như cháu đã đơn phương nghỉ việc. Và tiền lương sẽ không được thanh toán.

    Thưa luật sư, việc cháu nghỉ và công ty không thanh toán tiền lương cho cháu như vậy có đúng không? Nếu muốn được trả lương thì cháu cần phải làm gì? Thủ tục thế nào? Kính mong luật sư tư vấn giúp.

    Cháu xin chân thành cảm ơn.

     

    Trả lời:

     

    Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia. Với trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:

    Vì thông tin bạn cung cấp chưa cụ thể nên chúng tôi chia trường hợp như sau:

    Trường hợp 1, bạn và công ty đã ký kết hợp đồng lao động

    Thứ nhất, quy định về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

    Điều 37 Bộ luật lao động quy định:

    “1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

    a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
    b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

    c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

    d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

    đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

    e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

    g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

    2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

    a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1Điều này;

    b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

    c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

    3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.”
     
    Chiểu theo quy định trích dẫn trên, người lao động chỉ được xem là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi có hành vi thể hiện ý chí của mình đối với người sử dụng lao động (thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động).

    Đồng thời, Bộ luật lao động cũng quy định đối với trường hợp cha, mẹ chết, cụ thể:

    “Điều 116. Nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương

    1. Người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong những trường hợp sau đây:

    a) Kết hôn: nghỉ 03 ngày;

    b) Con kết hôn: nghỉ 01 ngày;

    c) Bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng chết; vợ chết hoặc chồng chết; con chết: nghỉ 03 ngày.

    2. Người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn.

    3. Ngoài quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương.”
     
    Trong trường hợp của bạn, bạn thông báo nghỉ việc trong thời gian 6 ngày làm việc với lý do bố bạn mất, và đã được người sử dụng lao động đồng ý. Như vậy đây không phải là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, mà chỉ được xem là nghỉ việc riêng có hưởng lương (3 ngày đầu) và nghỉ việc riêng  không hưởng lương (3 ngày sau) theo quy định của bộ luật lao động trích dẫn trên.

    Việc người sử dụng lao động nói rằng bạn đã vi phạm quy định của công ty là không có căn cứ. Trong trường hợp nội quy hoặc thỏa ước lao động của công ty có quy định về nội dung này thì đây là nội dung trái với quy định của pháp luật. Do vậy quyền và lợi ích của bạn sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật trích dẫn nêu trên.
     
    Thứ hai, về quyền lợi mà bạn được hưởng trong trường hợp này

    Bạn và công ty không thỏa thuận được vấn đề này, và công ty quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với bạn. Như vậy công ty đã chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Trong trường hợp này, công ty sẽ có các nghĩa vụ sau:

    “Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

    1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

    2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

    3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

    4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

    5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”
     
    Trong trường hợp công ty không trả tiền lương của 18 ngày làm việc, tiền lương của những ngày bạn không được làm việc tại công ty do công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, các khoản tiền bồi thường.... thì bạn thực hiện các công việc sau đây để bảo đảm quyền lợi của mình:

    - Thứ nhất, gửi đơn yêu cầu giải quyết các quyền lợi nêu trên của mình tới giám đốc công ty

    -Thứ hai, trong trường hợp giám đốc công ty không giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng thì bạn gửi yêu cầu hòa giải tới phòng lao động, thương binh và xã hội cấp huyện

    - Thứ ba, trong trường hợp hòa giải tại phòng lao động, thương binh và xã hội không thành thì bạn nộp đơn khởi kiện tại tòa án nhân dân nơi công ty có trụ sở.
     
    Trường hợp 2, bạn và công ty chưa ký kết hợp đồng lao động

    Theo quy định tại Bộ luật lao động thì:
     
    “Điều 28. Tiền lương trong thời gian thử việc

    Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

    Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc

    1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

    2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.”

    Như vậy nếu bạn và công ty mới chỉ thỏa thuận về thử việc mà chưa có hợp đồng lao động thì công ty chỉ có thể hủy bỏ thỏa thuận khi việc làm thử không đạt yêu cầu. Như vậy việc làm của công ty là hoàn toàn không có căn cứ.

     

    Trong trường hợp này công ty sẽ phải trả đủ tiền lương cho bạn và nhận lại bạn vào làm việc. Nếu công ty không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bạn có thể gửi đơn yêu cầu hòa giải lên phòng thương binh, lao động và xã hội của huyện.

     

    Trân trọng!
    Luật gia Nguyễn Ngân- Công ty Luật Minh Gia

Bài viết nổi bật