Tuấn Luật sư

Tự ý nghỉ việc không có xác nhận của công ty có vi phạm không?

Hỏi: Em làm ở công ty đã ký hợp đồng có thời hạn 1 năm. Em làm từ 1/3/2015 đến ngày 24/3/2015 là 19 ngày công đã trừ ngày chủ nhật. Nhưng ngày 21/3/2015 em viết đơn xin nghỉ việc bắt đầu từ 24/3/2015 và em đã tự ý nghỉ việc khi giám đốc chưa ký đơn. Phòng nhân sự gọi điện báo cho em biết là em đã nghỉ sai luật về thời gian báo trước và bắt em bồi thường 1 tháng lương thực lãnh là 8 triệu, khi lương hợp đồng là 5 triệu. Vậy có đúng không? Em phải trả lại công ty 7 ngày nữa đã trừ ngày chủ nhật

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Theo thông tin mà bạn cung cấp, trường hợp của bạn được hiểu là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Bởi lẽ hành vi này chưa được sự đồng ý của giám đốc. Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của bạn là hoàn toàn trái luật. Có 2 vấn đề trái luật xảy ra như sau:

*) Thứ nhất:

Về điều kiện đơn phương chấm dứt hợp đồng. Theo quy định của pháp luật lao động thì chỉ những trường hợp quy định sau người lao động được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.
 
Bạn có thể căn cứ vào quy định trên để biết được điều kiện chấm dứt hợp đồng lao động của mình đúng hay sai.

Tự ý nghỉ việc không có xác nhận của công ty có vi phạm không?

Tự ý nghỉ việc không có xác nhận của công ty có vi phạm không?

*) Thứ hai:

Về thời gian báo trước khi chấm đơn phương dứt hợp đồng lao động. Vì hợp đồng lao động của bạn là hợp đồng lao động xác định thời hạn, nên việc bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động sẽ phải báo trước cho công ty 1 khoảng thời gian là 30 ngày làm việc. Căn cứ:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.
 
Vì vậy, việc công ty thông báo đến bạn rằng bạn đã sai về thời gian báo trước là hoàn toàn có căn cứ pháp luật. Về việc bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật, pháp luật về lao động có quy định như sau:

Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Căn cứ vào quy định trên, việc công ty phạt yêu cầu bạn bồi thường là hoàn toàn có căn cứ. Nhưng mức yêu cầu bồi thường là sai. Vì theo quy định của pháp luật, nếu vi phạm quy định về thời gian thì người lao động chỉ phải bồi thường một khoản tiền lương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước. Nếu như vi phạm về điều kiện chấm dứt hợp đồng thì phái bồi thường thêm ½ tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Trân trọng!

Luật gia Đào Quang Vinh - Công ty Luật Minh Gia

Hotline: 1900.6169