Luật sư Vũ Đức Thịnh

Trách nhiệm bồi thường khi NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là một trong những quyền của người lao động, tuy nhiên không phải trường hợp nào người lao động đều có quyền đơn phương chấm dứt. Vậy Bộ luật lao động hiện nay quy định như thế nào về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động? Trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật thì có phải bồi thường không? Mức bồi thường được quy định như thế nào?

Câu hỏi đề nghị tư vấn: Tôi vừa ký hợp đồng lao động có xác định thời hạn thứ 2 được vài tháng, giờ gia đình tôi có việc nên phải xin thôi việc tôi đã nộp đơn lên trên nhưng do việc quá gấp không thể báo trước lâu nên chỉ báo trước được 1 tuần thì có được vi phạm hợp đồng không ạ. Và nếu trong trường hợp đó thì tôi sẽ bị phạt bao nhiêu? thời gian tôi làm trước khi nghỉ có được tính lương không ạ. Tôi xin trân thành cảm ơn!

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia. Đối với yêu cầu hỗ trợ của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Thứ nhất, về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

Theo quy định tại Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019 quy định:

Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Theo đó, căn cứ theo quy định trên người lao động sẽ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động. Đối chiếu với trường hợp của bạn là hợp đồng lao động có xác định thời hạn. Do đó, bạn sẽ phải có trách nhiệm thông báo trước ít nhất 30 ngày cho người sử dụng lao động. Vì vậy, việc bạn chỉ báo trước cho công ty 1 tuần được xác định là bạn đang đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường theo quy định.

Thứ hai, trách nhiệm phải bồi thường khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật

Theo quy định tại Điều 40 Bộ luật lao động năm 2019 quy định:

Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc.

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Như vậy, căn cứ theo quy định trên việc chấm dứt hợp đồng lao động trái luật sẽ phát sinh nghĩa vụ bồi thường là: Nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước. Ngoài ra, bạn sẽ không được hưởng chế độ trợ cấp thôi việc và Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo (nếu có).

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Liên hệ tư vấn