1. Trang chủ
  2.  › 
  3. Hỏi đáp pháp luật
  4.  › 
  5. Hỏi đáp Lao động
  • Muốn khởi kiện công ty để đòi tiền lương phải làm thế nào?

    • 04/05/2021
    • Triệu Lan Thảo
    • Khi chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có phải thanh toán tiền lương không? Phải thanh toán trong thời hạn bao lâu? Nếu người sử dụng lao động không thanh toán thì giải quyết như thế nào? Luật Minh Gia giải đáp thắc mắc liên quan đến vấn đề thủ tục khiếu nại và khởi kiện của người lao động qua tình huống sau đây:

    1. Luật sư tư vấn Luật Lao động

    Khiếu nại về lao động là việc người lao động, người học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động, người thử việc theo thủ tục quy định tại Nghị định này yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về lao động xem xét lại quyết định, hành vi về lao động của người sử dụng lao động khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật lao động, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Để tìm hiểu về vấn đề này, anh/chị có thể tham khảo Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản pháp luật liên quan hoặc liên hệ với Luật Minh Gia chúng tôi để được tư vấn cụ thể. Ngoài ra anh/chị có thể tham khảo tình huống chúng tôi tư vấn sau đây để vận dụng linh hoạt vào trường hợp của mình.

    2. Tư vấn về thủ tục khiếu nại và khởi kiện của người lao động

    Câu hỏi tư vấn: Chào Luật sư, Hiện tại tôi có 1 vấn đề nhờ luật sư tư vấn giúp: Trước đây tôi làm tại 1 Công ty X và đã nghỉ việc từ ngày 01/01/2020, lúc tôi nghỉ việc thì Công ty có nợ của tôi 2.5 tháng lương của năm 2019. Sau đó Công ty có thanh toán cho tôi 0.5 lương của tháng 10/2019 và đến hiện tại thì Công ty còn nợ tôi 2 tháng lương (11, 12/2019). Từ đó đến giờ thì tôi có yêu cầu BGĐ Công ty thanh toán cho tôi nhưng bên phía Công ty cứ nói là chưa có tiền nên chưa thanh toán. Giờ tôi muốn khiếu nại hoặc kiện Công ty thì các thủ tục như thế nào, xin nhờ luật sư tư vấn giúp.

    Nội dung tư vấn: Chào anh/chị, cảm ơn anh/chị đã tin tưởng gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của anh/chị chúng tôi tư vấn như sau:

    Căn cứ thông tin anh/chị cung cấp, anh/chị đã chấm dứt hợp đồng lao động với công ty từ ngày 01/01/2020, tại thời điểm đó công ty vẫn chưa thanh toán 2,5 tháng lương của năm 2019 và đến hiện tại công ty vẫn nợ anh/chị 2 tháng lương. Theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Lao động 2019:

    “Điều 48. Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động

    1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

    a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

    b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

    c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

    d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.

    ...”

    Theo đó, khi anh/chị chấm dứt hợp đồng lao động với công ty, công ty có trách nhiệm thanh toán đầy đủ tiền lương cho anh/chị trong thời hạn nêu trên. Nếu hết thời hạn này mà công ty không thanh toán, anh/chị có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện công ty về hành vi này.

    Thứ nhất, về thủ tục khiếu nại

    Để khiếu nại về hành vi này của công ty, anh/chị có thể gửi đơn khiếu nại lần đầu lên ban giám đốc công ty theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 24/2018/NĐ-CP:

    Điều 15. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về lao động, an toàn, vệ sinh lao động

    1. Người sử dụng lao động có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi về lao động, an toàn, vệ sinh lao động của mình bị khiếu nại.

    ...”

    Anh/chị có thể lựa chọn một trong hai hình thức khiếu nại đó là hình thức gửi đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp. Trong đó, khiếu nại bằng hình thức gửi đơn thì trong đơn khiếu nại ghi rõ nội dung sau đây: ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại (nếu có) và yêu cầu giải quyết khiếu nại. Đơn khiếu nại do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ. Hoặc khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận khiếu nại ghi lại đầy đủ nội dung khiếu nại và yêu cầu người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản.

    Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý. Trường hợp ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.

    Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà anh/chị không đồng ý thì anh/chị có quyền khiếu nại lần hai; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.

    Thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai là Chánh Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và xã hội theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định 24/2018/NĐ-CP:

    “Điều 15. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về lao động, an toàn, vệ sinh lao động

    ...

    2. Chánh Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở chính có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với khiếu nại về lao động, an toàn, vệ sinh lao động khi người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu theo quy định tại Điều 23 hoặc đã hết thời hạn quy định tại Điều 20 Nghị định này mà khiếu nại không được giải quyết.

    …”

    Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý. Trường hợp ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 90 ngày, kể từ ngày thụ lý.

    Thứ hai, về thủ tục khởi kiện

    Ngoài thủ tục khiếu nại, anh/chị cũng có thể khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hoặc theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính nếu thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 24/2018/NĐ-CP:

    Điều 10. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại

    2. Quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án

    a) Người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong trường hợp sau đây:

    - Có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi của người sử dụng lao động; tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp; doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình;

    - Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định tại Điều 23 Nghị định này;

    - Đã hết thời hạn quy định tại Điều 20 Nghị định này mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết.

    b) Người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính trong trường hợp sau đây:

    - Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai theo quy định tại Điều 31 Nghị định này;

    - Đã hết thời hạn quy định tại Điều 28 Nghị định này mà khiếu nại lần hai không được giải quyết.

    …”

    Như vậy, tùy thuộc vào trường hợp cụ thể của anh/chị, anh/chị có thể nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hoặc theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

    Trường hợp anh/chị khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, Điều 118 Bộ luật Lao động 2019 quy định:

    “Điều 188. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

    1. Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

    a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

    …”

    Do vậy, anh/chị phải giải quyết tranh chấp lao động thông qua thủ tục hòa giải hoặc không bắt buộc thông qua thủ tục hòa giải nếu thuộc trường hợp xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi giải quyết thông qua thủ tục hòa giải, anh/chị có thể gửi đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty có trụ sở để được giải quyết.

    Trường hợp anh/chị khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính, anh/chị sẽ gửi đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh để được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015:

    “Điều 32. Thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh

    Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:

    3. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án và của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó.

    …”

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề anh/chị yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác anh/chị vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Bài viết nổi bật

TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN

Hỗ trợ miễn phí

 1900 6169