LS Nguyễn Mạnh Tuấn

Thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân

Chào luật sư, cho tôi hỏi về việc thỏa thuận tài sản trong thời kỳ hôn nhân như sau: Tôi đã có chồng và một bé gái 7 tuổi, do kinh tế gia đình khó khăn phải thuê nhà ở hàng tháng nên mẹ ruột tôi đã cho tôi tiền mua căn hộ chung cư. Hợp đồng mua bán nhà trả góp trong vòng 5 năm.

Tôi đã đăng ký mua nhà và trả tiền từ năm 2007, đến nay đã được gần 400 triệu đồng (lần đầu trả hơn 200 triệu). Hiện nay, hợp đồng mua nhà vẫn đứng tên tôi và tôi muốn nó là tài sản riêng của tôi, không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Hàng quý mẹ tôi vẫn cho tôi tiền trả tiền nhà (trả góp). Chồng tôi cũng không có ý kiến gì về việc này.

Vậy tôi xin hỏi:

- Tôi phải làm thủ tục gì để có thể đứng tên trên nhà của mình.

- Tôi nghe nói nếu lập hợp đồng tặng cho tài sản trên 50 triệu đồng (mẹ tôi cho tôi) thì bắt buộc phải công chứng ở Sở tư pháp có đúng không? Nếu không công chứng mà có người làm chứng thì hợp đồng có hiệu lực không?

Thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân

>> Tư vấn thủ tục thỏa thuận tài sản vợ chồng, gọi: 1900.6169

Tư vấn: Thỏa thuận tài sản trong thời kỳ hôn nhân thực hiện thế nào?

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

- Về xác định tài sản chung vợ chồng

Căn cứ quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về tài sản chung của vợ chồng như sau:

Xem trích dẫn quy định về tài sản chung vợ chồng

Như vậy, nếu ngôi nhà này chị mua trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Để đảm bảo ngôi nhà này là tài sản riêng của chị thì chị cần phải có sự bàn bạc, thỏa thuận về phân chia tài sản với chồng. Vợ chồng chị cần phải làm văn bản thỏa thuận về ngôi nhà này là tài sản riêng của chị, văn bản này phải được công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền.

Do đó, nếu ngôi nhà được mua trong thời kì hôn nhân, nhưng hai vợ chồng đã có thỏa thuận đây là tài sản của riêng chị nên chỉ cần không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng thì vẫn là tài sản riêng của chị và chị có thể làm thủ tục đăng kí quyền sở hữu đứng tên mình chị.

Về thắc mắc hợp đồng tặng cho tiền:

Pháp luật không có quy định về trường hợp tặng cho tài sản bằng tiền bắt buộc phải có công chứng, chứng thực. Đối với hợp đồng tặng cho tài sản là tiền thì chỉ cần có hợp đồng viết tay (có thể có thêm người làm chứng) thì cũng có giá trị pháp lý.

---------

- Thỏa thuận tài sản vợ chồng hình thành trước và trong hôn nhân thế nào?

Câu hỏi:

Chào công ty luật. Tôi đang lo lắng về việc quản lý tài sản sau khi hết hôn. Với luật pháp hiện hành, tôi có cách nào bảo vệ tài sản trước hôn phối không? Cụ thể là tôi muốn làm một thỏa thuận về tài sản trước khi kết hôn có được không? Tôi muốn không có bất cứ một tài sản chung nào với vợ. Bởi cuộc đời không nói trước được điều gì, cũng không ai nghĩ đến chuyện li dị khi kết hôn, nhưng việc này coi như là một bảo hiểm để lỡ có chuyện gì xảy ra không phải tranh chấp. Mong nhận được câu trả lời cụ thể, rõ ràng. Cám ơn công ty nhiều ạ!

Tư vấn:

Chào anh! Cảm ơn anh đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của anh chúng tôi tư vấn như sau:

- Về chế độ tài sản của vợ chồng

Điều 15 Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định:

"1. Trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một trong các nội dung sau đây:

a) Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;

b) Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;

c) Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;

...." 

>> Giải đáp vướng mắc về tài sản chung, tài sản riêng, gọi: 1900.6169

- Về việc lập thỏa thuận tài sản giữa vợ chồng

Theo phân tích trên đây, anh và vợ có thể lập thỏa thuận như điểm c khoản 1 Điều 15 ở trên, thỏa thuận này phải được lập thành văn bản và có công chứng. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng anh vẫn có thể sửa đổi, bổ sung nội dung một phần hoặc toàn bộ thỏa thuận này, tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung này cũng phải được lập thành văn bản có công chứng và hai vợ chồng có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho người thứ ba trường hợp nội dung được sửa đổi, bổ sung trong thỏa thuận có liên quan đến giao dịch với người thứ ba.

Trân trọng.

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Liên hệ tư vấn