Tuấn Luật sư

Tài sản riêng khi vợ chồng chung sống không có hôn thú?

Nhờ luật sư tư vấn về trường hợp chuyển nhượng tài sản riêng của vợ khi sống chung nhưng không có hôn thú (Đăng ký kết hô) cụ thể như sau: Tôi lấy chồng năm 1989 nhưng không làm hôn thú ,hiện tại chúng tôi có 1 đứa con 23 tuổi.

Năm 2008, chúng tôi đã không còn chung sống với nhau. Bây giờ tôi muốn bán căn nhà do chính tôi đứng tên. Xin hỏi ,chúng tôi có cần phải làm đơn xin ly hôn, để tránh sự tranh chấp về nhà cửa không? Căn nhà là tài sản riêng của tôi. Rất mong được luật sư tư vấn dùm. Chân thành cảm ơn

tai-san-rieng-khi-khong-co-hon-thu-jpg-15092013061358-U1.jpg

Tư vấn về xử lý tài sản riêng khi không có hôn thú, gọi: 1900.6169

Luật sư tư vấn: Chào chị, cảm ơn chị đã gửi đề nghị tư vấn trường hợp chị hỏi Chúng tôi xin trả lời như sau:

Thời điểm anh chị chung sống với nhau và phát sinh tài sản năm 1989, Do vậy:

Theo khoản 3 điều 3 của Nghị quyết 35/2000 về hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 như sau:

3. Việc áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này được thực hiện như sau:

a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;

Như vậy trong trường hợp của chị mặc dù anh chị chưa đăng ký kết hôn nhưng có cuộc sống hôn nhân thực tế cho đến ngày 2008. Còn từ thời điểm 2008 đến nay anh chị đã không còn sống chung với nhau như vậy là anh chị không còn là vợ chồng cả về mặt pháp lý lẫn thực tế.

Còn về khối tài sản là căn nhà của chị do chính chị đứng tên, nếu chị có đầy đủ giấy tờ chứng minh đó là tài sản riêng của chị  thì chị có toàn quyền quyết định với khối tài sản đó.

Chúc chị sức khỏe và giải quyết được vấn đề!

>> Luật sư giải đáp vướng mắc về phân chia tài sản, gọi: 1900.6169

Tư vấn về vấn đề tài sản khi ly hôn theo quy định pháp luật

Câu hỏi: Chào luật sư, năm 1990 tôi kết hôn với chồng tôi và có 1 đứa con trai năm 1991. Trong thời gian tôi mang bầu, anh đã có nhiều hành vi bạo lực như đánh đập chửi rủa lăng mạ tôi, thậm chí là cắt gân tay làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể xác và tinh thần của tôi. Vì thế tôi quyết định về quê sinh con, trong thời gian tôi về quê , anh ở đây đã bán sạch tất cả tài sản của tôi để  kết hôn với 1 người phụ nữ khác và anh đã có 1 đứa con riêng. Tôi 1 mình nuôi con vất vả suốt 9 năm liền, anh ko gửi 1 đồng nào về cho con. Khi con đc 9 tuổi, anh quay về và cầu xin tôi tha thứ, tôi cắn răng chấp nhận vì tôi muốn đứa con của tôi có cha có mẹ đầy đủ. Và vào năm 2000, chúng tôi đã có với nhau 1 đứa con gái, trong thời gian tôi mang bầu anh không hề thay đổi và vẫn có những hành vi bạo lực đánh đập tôi, nhưng vì con tôi chịu đựng tất cả. Và cũng vào thời điểm này tôi được quân đội cấp cho 1 miếng đất và CHỈ CẤP CHO MỘT MÌNH TÔI vì tôi là người trong quân đội. Anh vào đây với 2 bàn tay trắng nên không có công ăn việc làm, kinh tế phụ thuộc hết lên tôi. Một thời gian sau khi sinh con, tôi có tích trữ được 1 khoản kha khá nên đã mua vàng để dự trữ nhưng nhân lúc tôi không có ở nhà anh đã lấy hết và đem bán đi để lấy tiền ăn tiêu, tôi nhấn mạnh là số vàng mà tôi có đc đều hoàn toàn là công sức làm việc và từ đồng lương của chỉ mình tôi kiếm đc và nó hoàn toàn là của tôi. Đến năm 2007, tôi quyết định làm sổ đỏ nhưng không may sao lại có cả tên anh trong sổ. Trong thời gian tiếp theo đó, bạo lực gia đình vẫn cứ tiếp tục xảy ra với tôi, đỉnh điểm là năm 2012 với bản tính ghen tuông mù quáng, anh đã đâm tôi một nhát dao sau ngực trước mặt con trai, việc làm này khiến anh đi tù 6 năm và tôi đã mất 46% sức khỏe. Bây giờ anh trở về ,tôi muốn ly hôn với anh như muốn giải thoát cho chính bản thân tôi khỏi quãng thời gian đen tối. Tôi có thể khẳng định rằng: Tài sản ở trong nhà hầu hết là của tôi và hoàn toàn là do thu nhập của tôi tạo nên. Vì vậy tôi muốn tham khảo ý kiến luật sư về việc phân chia tài sản như sau:

- Làm thế nào để chứng minh toàn bộ tài sản cũng như miếng đất của tôi là tài sản riêng? Tôi xin được nhấn mạnh là chồng tôi không hề đi làm cũng như k hề có thu nhập, anh hoàn toàn ăn bám vào tôi.

- Tôi có thể kiện anh ta về tội danh gì để đòi lại công bằng cho tôi?

- Và tôi phải chuẩn bị những gì ?

XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN LUẬT SƯ !

Trả lời tư vấn: Chào chị. Cảm ơn chị đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn đến cho Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của chị chúng tôi tư vấn như sau:

- Thứ nhất, Về vấn đề tài sản 

Trước hết, pháp luật sẽ tôn trọng thỏa thuận của hai bên vợ chồng về vấn đề chia tài sản và giải quyết theo thỏa thuận. Nếu chị và chồng chị không có thỏa thuận gì thì sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về tài sản chung của vợ chồng:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Theo quy định trên tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân trừ trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại Điều 40 thì đều là tài sản chung của vợ chồng. Tất cả tài sản, nguồn thu nhập chị tạo ra trong thời kỳ hôn nhân với chồng chị đều là tài sản chung từ số vàng đã bị chồng chị lấy bán đi, hay các tài sản hiện tại chị có. Vì đều được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Về mảnh đất chị được quân đội cấp cho một mình chị là tài sản riêng của chị cho đến thời điểm chị làm sổ đỏ đứng tên cả chị và chồng chị. Từ khi chị đi làm sổ đỏ đứng tên cả hai người thì hành vi đó được coi như sáp nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng

Chị có thể chứng minh công sức đóng góp của chị vào việc tạo lập tài sản chung. Hầu hết có được từ thu nhập chị làm ra, chị có thể sử dụng các chứng từ, hóa đơn từ việc chị nhận lương hay các giao dịch tạo ra thu nhập để nộp lên Tòa án. Và trình bày việc chồng chị không hề làm ăn hay chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, nội trợ gia đình (chị có thể nhờ hàng xóm hoặc người thân gia đình làm chứng). Bên cạnh đó, chồng chị đã gây thương tích cho chị 48% và được tuyên bởi một bản án có hiệu lực của pháp luật là 6 năm tù. Hành vi đó đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng. Không chỉ thế, chồng chị còn hành hạ, lăng mạ chị trong thời gian chị đang mang thai (chị có thể mời người làm chứng trong trường hợp này). Trong thời gian 6 năm trong tù, chồng chị cũng không có khả năng tạo ra thu nhập. Những tình tiết trên sẽ được Tòa án xem xét và quyết định chia khối tài sản chung của hai bên.

- Thứ hai, Về hành vi bạo lực của chồng chị

Chồng chị đã có nhiều hành vi bạo lực như đánh đập chửi rủa lăng mạ chị, thậm chí là cắt gân tay làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể xác và tinh thần của chị khi chị mang thai lần đầu. Đến năm 2000, chị mang thai lần thứ hai chồng chị không hề thay đổi và vẫn có những hành vi bạo lực đánh đập chị.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 thì:

1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

Chồng chị sử dụng hành vi bạo lực gia đình đối với chị một cách nghiêm trọng. Đối với hành vi này chồng chị phải chịu chế tài bao gồm: biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Với mức độ như chị kể thì chồng chị có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm a Khoản 2 Điều 110 Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 về tội hành hạ người khác hoặc Điều 151 về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình. Tuy nhiên, hai tội này có khung hình phạt cao nhất là 3 năm tù được phân loại vào tội phạm ít nghiêm trọng. Theo quy định tại Điều 23 Bộ Luật Hình sự thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự cho loại tội phạm ít nghiêm trọng là 5 năm. Từ thời điểm chị mang thai lần 2 là năm 2000 cho đến nay năm 2017 đã hết thời hiệu khởi kiện.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tài sản riêng khi vợ chồng chung sống không có hôn thú? Nếu còn vướng mắc bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn hôn nhân gia đình trực tuyến để được giải đáp.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí