Hỏi đáp Hôn nhân Gia đình

  • Quy định pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

    • 04/11/2019
    • Nguyễn Thị Điển
    • Tôi xin hỏi Luật sư về quy định pháp luật hôn nhân gia đình đối với việc phân chia tài sản chung vợ chông khi tiến hành ly hôn như sau: Vợ chồng anh trai tôi cưới nhau đạ được mười mấy năm và có với nhau một đứa con trai, năm nay cháu được 13 tuổi

    Sau khi anh trai tôi cưới vợ, ba mẹ tôi có cho anh tôi một miếng đất khoảng 400m2 và xây cho một căn nhà trên miếng đất đó để vợ chồng anh tôi ở (miếng đất đó chỉ một mình anh trai tôi đứng tên). Thời gian vài năm gần đây vợ chồng anh tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nên anh trai tôi đã nộp đơn xin đơn phương ly hôn. Xin Luật sư tư vấn dùm:

    1/ việc anh tôi đơn phương xin ly hôn mà nếu chị dâu tôi không đồng ý thì Tòa án có giải quyết cho ly hôn không?

    2/ Nhà và đất chỉ mình anh trai tôi đứng tên, vậy nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì tài sản đó có phải chia cho chị dâu tôi hay không? 

    Quy định pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
    Quy định về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn đến Luật Minh Gia, về vấn đề của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

    Thứ nhất, việc anh bạn đơn phương xin ly hôn mà nếu chị dâu bạn không đồng ý thì Tòa án vẫn giải quyết ly hôn được bởi theo quy định tại điều 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì anh bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn:

    "Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

    1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

    2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

    3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi".

    Mặt khác, theo quy định tại điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 về ly hôn theo yêu cầu 1 bên thì:

    "Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

    1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

    2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

    3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia".

    Trong trường hợp của anh bạn, anh bạn vẫn có quyền đơn phương nộp đơn ly hôn, nếu hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

    Thứ hai, về nhà và mảnh đất mà anh bạn đang đứng tên, như bạn trình bày thì sau khi anh trai bạn cưới vợ, ba mẹ bạn có cho anh bạn một miếng đất khoảng 400m2 và xây cho một căn nhà trên miếng đất đó để vợ chồng anh bạn ở. Theo quy định tại điều 33 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì:

    "Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

    1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

    Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

    2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

    3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung".

    Quyền sử dụng đất là tài sản được bố mẹ bạn cho sau khi kết hôn mà anh bạn đang đứng tên vì bạn không nói rõ nên không biết rằng bố mẹ bạn cho anh bạn hay cho cả hai vợ chồng anh bạn. Không thể nói vì anh bạn đang đứng tên nên đó là tài sản riêng của anh bạn được. Theo quy định tại khoản 1 điều 33 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng anh bạn có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp anh bạn được bố mẹ bạn cho thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

    Khi ly hôn, theo quy định tại điều 59 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì :

    "Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

    1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

    Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

    2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

    a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

    b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

    c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

    d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

    3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

    4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

    Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

    5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

    6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này".

    Như vậy về việc phân chia tài sản khi ly hôn :

    - Nếu mảnh đất và ngôi nhà là tài sản mà bố mẹ bạn cho riêng anh bạn thì đó là tài sản riêng của anh bạn, khi ly hôn đây được xem là tài sản riêng của anh bạn. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà anh bạn đang có tranh chấp là tài sản riêng của anh bạn thì tài sản đó được coi là tài sản chung khi đó anh bạn vẫn phải chia cho chị dâu bạn.

    - Nếu mảnh đất và ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng anh thì khi Tòa án giải quyết cho ly hôn thì tài sản đó anh bạn vẫn phải chia đôi cho chị dâu bạn, điều đó có xét đến các yếu tố quy định tại khoản 2 điều 59 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

    Hotline: 1900.6169