Nông Hồng Nhung

Đơn phương ly hôn khi không xác định được nơi cư trú của chồng.

Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của chồng thì nộp đơn ly hôn theo yêu cầu của một bên ở đâu? Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết? Có thể nộp đơn tại Tòa án nhân dân nơi nguyên đơn cư trú được không? Nếu trong thời gian không xác định được nơi cư trú của chồng mà vợ có con với người khác thì xác định cha như thế nào? Luật Minh Gia tư vấn như sau:

Nội dung tư vấn: Xin chào luật sư! Em muốn xin được tư vấn giúp em 2 vấn đề là ly hôn và thay đổi khai sinh cho con.

Em ở Tp.HCM vào năm 2006 em lập gia đình có đăng ký kết hôn hợp pháp tại nơi cư trú của em cùng với người chồng quê quán ở Đà Nẵng và có 1 bé giái. Cuộc sống sau hôn nhân có nhiều mâu thuẫn vì cảnh sống nghèo khó, chồng em đã Bỏ 2 mẹ con em để trở về quê nhà sống cùng gia đình của anh ấy ở Đà Nẵng khi con gái em mới được gần 4 tuổi (tức năm 2010 anh ấy bỏ đi).

Sau nhiều lần ra tận Đà Nẵng tìm kiếm và nói chuyện muốn cứu vãn cuộc hôn nhân cho con em có đầy đủ cả Ba lẫn Mẹ như bao đứa trẻ khác nhưng không thành. Em trở về Sài Gòn cố gắng đi làm bươn trải cuộc sống 1 thân 1 mình lo cho con gái.

3 – 4 năm sau kể từ ngày chồng em bỏ đi em cũng nghĩ đến việc làm thủ tục Ly Hôn theo đúng pháp lý vì chồng em không hề liên lạc hỏi thăm con cái hay cấp dưỡng gì cả chứng tỏ em không thể cứu vãn cuộc hôn nhân của mình sau nhiều năm hy vọng.

Sau đó em đã lên Toà Án nơi em cư trú và đăng ký kết hôn để xin làm đơn Ly Hôn nhưng bị Toà Án Từ Chối Tiếp Nhận Đơn vì chồng em không có mặt và cũng không xác nhận được vắng mặt theo diện mất tích nên cũng không thể tiếp nhận Giải quyết theo diện Đơn phương Ly Hôn cho em được và Yêu cầu em nên gửi đơn Khởi Kiện Ly Hôn về Toà Án Đà Nẵng nơi chồng em cư trú.

Do thiếu hiểu biết về luật và phải trông nom con nhỏ tuổi ăn học (con gái em lúc đó mới 7 – 8 tuổi) và em đi làm không thể xin nghỉ lâu cũng không có điều kiện để đi xa được nên em thôi không làm đơn ly hôn nữa.

Thời gian trôi qua đến giữa năm 2017 em có phát sinh tình cảm với 1 người và đã đám cưới với người đó (tức người chồng hiện giờ của em) nhưng vẫn chưa đăng ký kết hôn hợp pháp được.

Đến giữa năm 2018 em có sinh 1 bé trai nhưng lại không biết làm sao để làm Khai sinh cho con. Sau đó em đã được bà con trong xóm khuyên là tạm thời nên làm Khai sinh Không Cha cho con em trước đi rồi về lo tìm hiểu Ly Hôn rồi ra làm lại hết giấy tờ cho hợp pháp.

Em đã ra UBND nơi em cư trú để làm khai sinh cho con em, người Quản Lý Hộ Tịch nơi em cư trú sau khi nghe em xin làm Khai sinh Không Cha cho con thì liền hỏi em có muốn để tên Ba cho con không? Em thật tâm nên trình bày hết sự việc mà mình đang vướng phải cho người đó biết. Sau khi nghe hết mọi việc người QLHT đã kiên quyết Không chấp nhận làm Giấy Khai Sinh cho con em và nói là em đã Vi phạm luật hôn nhân gia đình chưa phạt em là may lắm rồi ở đó mà làm giấy Khai sinh cho con em.

Người đó đã yêu cầu bắt buộc em phải về giải quyết Ly hôn sau khi xong Ly hôn phải có giấy xác nhận của người chồng trước của em là Con Trai em không phải là con của anh ấy gửi lên Toà Án  tuyên xong xuôi thì về người đó mới chấp nhận làm Khai Sinh cho con em mặc dù em đã trình bày là Không thể nào liên lạc được với người chồng cũ.

Sau đó em trở về cũng tìm hiểu và trở lên Toà Án nơi em cư trú để gửi đơn Ly Hôn và vẫn Không Được Toà Án chấp nhận đơn.Yêu cầu em phải gửi Đơn Khởi Kiện về Toà án Đà Nẵng nơi chồng trước của em cư trú để giải quyết ly hôn.

Vấn đề xảy ra là thời gian 7 – 8 năm trôi qua em vùi đầu vào công việc lo lắng tiền nong cho con gái ăn học đầy đủ không thua thiệt với bạn bè cùng trang lứa khi chỉ có Mẹ mà Không có Ba và không hề liên lạc qua lại gì hết nên tất cả địa chỉ liên hệ em điều thất lạc vì khi phải chuyển chỗ ở.

Còn chồng trước của em từ ngày bỏ đi thì cả anh ấy và gia đình anh ấy điều đã đổi số điện thoại và cũng đã bán nhà đi nơi khác sợ mẹ con em tìm đến (do em nghèo khó nên cũng không được lòng gia đình bên chồng). Em vẫn cố gắng gửi Đơn Khởi Kiện Ly Hôn ra Toà Án Đà Nẵng nhưng khi bị yêu cầu bổ sung địa chỉ và số địên thoại để liên hệ với người chồng trước em đã không thể bổ sung nên hồ sơ vẫn không thể làm được.

Thời gian trôi qua con trai em đã 1 tuổi nhưng vẫn không có giấy khai sinh mọi người biết chuyện ai cũng bàn tán và sợ ảnh hưởng đến việc học hành của con em sau này. Em đã giấu người chồng hiện tại để ra UBND nơi em cư trú năn nỉ xin được làm giấy khai sinh cho con theo đúng thủ tục làm khai sinh cho trẻ vì con em đã hơn 1 tuổi rồi nhưng người QLHT vẫn không đồng ý.

Bất bách quá em đã bạo gan để tiền gọi là cà phê vài trăm ngàn để được giải quyết khai sinh cho con. Cuối cùng người Quản Lý Hộ Tịch nơi em cư trú cũng đã chấp nhận nhưng em chỉ được để tên Ba đứa bé là tên của người chồng cũ Không Được để tên người chồng hiện giờ tức cũng là Ba hợp pháp cùng huyết thống của con trai em và em phải viết Giấy cam kết con trai em chính là con của người chồng trước theo đúng với giấy khai sinh và chịu hoàn toàn trách nhiệm nộp cho người QLHT thì em mới được làm Giấy khai sinh cho con trai em.

Lúc đó quá bế tắc không biết làm sao em đã chấp nhận làm theo hướng dẫn của người Quản Lý Hộ Tịch để con trai em có được Giấy khai sinh hợp lệ. (tháng 6 năm 2019 con em đã được làm giấy khai sinh theo đúng cam kết)

Đến ngày hôm nay nhờ được bạn bè chỉ dẫn em mới biết được văn phòng luật sư Luật Minh Gia để gửi nội dung vấn đề gặp phải. Rất mong được sự chỉ dẫn tư vấn tận tình của văn phòng luật sư giúp em hướng để Giải quyết Ly hôn với người chồng trước (đã không liên lạc hay qua lại với bất kỳ hình thức nào gần 10 năm nay). Và tư vấn làm sao để giúp em có thể thay đổi tên Ba cho con trai em trong khai sinh được đúng sự thật và hợp pháp. Chân thành cảm ơn ban văn phòng luật sư Luật Minh Gia!

Trả lời tư vấn: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, đối với vấn đề ly hôn theo yêu cầu của một bên

Căn cứ thông tin bạn cung cấp, năm 2006 bạn lập gia đình và tiến hành đăng ký kết hôn hợp pháp theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, qua quá trình chung sống, hai vợ chồng bạn phát sinh nhiều mâu thuẫn khiến cho đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bạn có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

…”

Đồng thời, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về căn cứ giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

“Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

Như vậy, đối chiếu với trường hợp của bạn nếu có căn cứ về việc chồng bạn có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của của vợ, chồng theo Khoản 1 quy định nêu trên thì bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Và Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định ly hôn theo yêu cầu của một bên (ly hôn đơn phương) là tranh chấp về hôn nhân và gia đình:

“Điều 28. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.”

Vì vậy, thẩm quyền giải quyết yêu cầu ly hôn đơn phương của bạn được xác định là Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi chồng bạn cư trú hoặc Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn cư trú (áp dụng trong trường hợp các bên thỏa thuận) theo quy định tại Khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:

“Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;”

“Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;”

Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp, hiện nay bạn không xác định được nơi cư trú của chồng bạn. Do đó, chưa thể xác định được Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết yêu cầu đơn phương ly hôn theo quy định của pháp luật. Vì vật, để có thể giải quyết đơn phương ly hôn, bạn cần phải liên hệ đến gia đình chồng hoặc địa phương nơi cư trú trước đó của chồng bạn để xác định nơi cư trú của chồng bạn hiện nay.

Trong trường hợp có căn cứ về việc chồng bạn đi biệt tích khỏi nơi cú trú 6 tháng trở lên thì bạn có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định tại Điều 64 Bộ luật Dân sự 2015:

“Điều 64. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

Khi một người biệt tích 06 tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của Bộ luật này.”

Sau khi đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định mà vẫn không có tin tức xác thực về việc chồng bạn còn sống hay đã chết thì bạn có thể yêu cầu tuyên bố mất tích, theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự 205:

“Điều 68. Tuyên bố mất tích

1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.”

Khi chồng bạn bị tuyên bố mất tích, bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, vấn đề xác định quan hệ cha, mẹ, con

Theo thông tin bạn cung cấp, trong thời gian hai vợ chồng bạn không chung sống, bạn có quan hệ tình cảm và có con riêng với một người đàn ông khác. Về nguyên tắc, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

...”

Từ quy định nêu trên, xét thấy bạn chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân với chồng của bạn. Do đó, cháu bé sinh ra trong thời kỳ hôn nhân sẽ được xác định con của chồng bạn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, để thay đổi thông tin người cha trên giấy khai sinh của cháu, người cha cần thực hiện thủ tục khởi kiện ra Tòa án yêu cầu xác định quan hệ cha, con.

Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn cần cung cấp chứng cứ chứng minh quan hệ cha con. Chứng cứ được xác định là một trong các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại Điều 11 Thông tư 15/2015/TT-BTP như sau:

“Điều 11. Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con

Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

2. Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.

Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.”

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng

Phòng Luật sư tư vấn Luật Hôn nhân và gia đình - Công ty Luật Minh Gia.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí