Mai Hồng

Chia tài sản sau khi ly hôn như thế nào?

Chồng em đứng tên giám đốc 1 cty TNHH nhỏ, Hàng tháng anh vẫn chi 1 khoản lương cho giám đốc là 7tr và cho công nhân lao động là 5tr. Trong đó có em (lao động trực tiếp tại xưởng). Căn nhà đang ở mua sau khi kết hôn. Một mảnh đất mua sau khi kết hôn. Tất cả đều do chồng em đứng tên. Ngay cả chiếc xe máy đi lại cũng vậy.

Vậy xin cho em hỏi, nếu hai vợ chồng ly hôn thì phần tài sản sẽ chia như thế nào? 2 đứa con gái nhỏ đang học cấp 1, em sẽ nhận nuôi con hết có được ko? 

Trả lời, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty luật Minh gia về câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về  Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:


"1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
 

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:


a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;


b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi
như lao động có thu nhập;


c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;


d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.


3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.


4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.


Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.


5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình."


Như vậy, số tài sản mà bạn nói có sau khi kết hôn đó, mặc dù đứng tên chồng bạn nhưng vì nó được hình thành trong thời kì hôn nhân nên hai vợ chồng có thể tự thỏa thuận về việc chia số tài sản trên, cách này sẽ đỡ tốn chi phí phát sinh khi ra tòa và thời gian giải quyết việc  ly hôn cũng sẽ tiến hành được nhanh hơn. Còn nếu như trong trường hợp mà vợ chồng bạn không thể thỏa thuận được việc chia tài  sản thì sẽ do Tòa án giải quyết theo quy định.
 

Tại Điều 33 luật trên quy định về Tài sản chung của vợ chồng như sau:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.


Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.


2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.


3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Căn cứ vào các quy định tôi đã dẫn trên có thể thấy, tất cả các tài sản mà bạn liệt kê trên đều có sau thời kì hôn nhân và được coi là tài sản chung của vợ chồng. Nếu như, chồng bạn chứng minh được toàn bộ số tài sản mà chồng bạn đứng tên là tài sản riêng của chồng bạn, hoàn toàn  có được từ nguồn thu nhập của anh ấy và bạn không hề có đóng góp gì trong việc có được các tài sản ấy thì sẽ là tài sản riêng của chồng bạn và không được mang ra chia. Vì 

Theo Điều 43 luật trên quy định về Tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

 

"1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.


2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Như vậy, nếu chồng bạn không chứng mình được số tài sản trên là của riêng chồng bạn thì số tài sản đó được mang ra chia đôi trong đó có lưu ý đến việc đảm bảo quyền lợi và nhu cầu để cho bạn nuôi con trong trường hợp nếu hai con theo bạn.

Còn về việc bạn nói bạn có được quyền nhận cả hai con nuôi không, vì bạn không nói rõ số tuổi của hai bé mà chỉ nói hai cháu học cấp 1. Về vấn đề này tại Luật trên quy định nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên sẽ hỏi ý kiến con theo mẹ hay theo cha. Hai vợ chồng bạn cũng có thể tự thỏa thuận việc nuôi con, nếu chồng bạn đồng ý được thì bạn sẽ nuôi hai con, còn không sẽ do Tòa án quyết định. Về vấn đề này Điều 84 luật trên quy định như sau:


"1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.


2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:


a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;


b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.


3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.


4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự."

Như vậy, nếu như để Tòa án giải quyết thì bạn được nhận quyền nuôi hai con khi mà Tòa xem xét khả năng kinh tế của bạn có thể hơn chồng bạn để lo được cho hai con. Tức là căn cứ vào việc ai có điều kiện hơn thì người đó sẽ giành được quyền nuôi con nhiều hơn. Như tôi nói trên, nếu con đủ 7 tuổi thì phải hỏi ý kiến của con.

Sau khi ly hôn, một trong hai bên sẽ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dường cho con khi con đủ đến 18 tuổi. Tức là nếu bạn nhận được quyền nuôi hai con thì chồng bạn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng một khoản tiền nhất định hàng tháng để nuôi hai con cho tới khi chúng đủ 18 tuổi theo quy định của pháp luật.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí