Trần Kim Khánh

Giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội

Nhân viên lấy trộm của cửa hàng hai chiếc điện thoại di động trị giá 18 triệu đồng, nhưng sau đó đã đem trả lại điện thoại và thành khẩn khai báo. Vậy có thể phải nhận hình phạt như thế nào ? Liệu có bị án treo và thời gian xóa án tích đến 5 năm không ?


Nội dung yêu cầu: Chào luật sư! Luật sư cho em hỏi 1 số vấn đề sau với ạ. Bạn em đang làm ở một công ty kinh doanh điện thoại di động, một hôm vì gia đình khó khăn nên suy nghĩ không thấu lấy trộm 2 điện thoại di động  trị giá 18 triệu, và sau 1 tuần thấy hành vi của mình là sai trái lương tâm áy náy nên có đem trả lại 2 điện thoại di động và thành khẩn khai báo. Phía công ty cũng không tố cáo gì và đã bãi nại. Còn về bên công an thì cũng đã có kết quả điều tra và cũng có 3 tình tiết giảm nhẹ như file đính kèm. Vậy nhờ luật sự giúp em cho biết bạn em có thể sẻ phải nhận hình phạt như thế nào không ạ ? Mấy anh công an điều tra có nói với bạn em là có thể sẽ bị án treo và thời gian xoá án tích có thể đến 5 năm? Rất mong luật sư giúp đở! Em xin chân thành cảm ơn!
 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Gia, chúng tôi tư vấn cho trường hợp của bạn như sau:

 

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội trộm cắp tài sản như sau:

 

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

 

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

 

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

 

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

 

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

 

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

…”.

 

Trường hợp một người lấy trộm hai chiếc điện thoại di động được định giá 18 triệu đồng (có mức giá trị trong khoảng từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng ) nên đủ dấu hiệu CTTP đối với tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 nêu trên. Hành vi của đối tượng có thể bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

 

Tuy nhiên, trong giai đoạn xét xử, HĐXX sẽ căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS để phán quyết một hình phạt cụ thể cho bị cáo. Theo bạn trình bày, trước khi hành vi bị phát giác thì người này đã thành khẩn khai báo, kịp thời khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra (trả lại tài sản chiếm đoạt được) và có đơn xin giảm nhẹ TNHS của công ty nên có căn cứ để HĐXX áp dụng một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung theo quy định tại Điều 54 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017:

 

“Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

 

1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

 

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

 

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.”.

 

Trường hợp này người thực hiện hành vi phạm tội có thể được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểmb, điểm i, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự làm căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

 

“b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

 

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

 

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;”.

 

Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP quy định về án treo như sau:

 

Điều 2. Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo

 

Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

 

1. Bị xử phạt tù không quá 03 năm.

 

2. Có nhân thân tốt.

 

Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

 

Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

 

3. Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

 

Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

 

4. Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

 

Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.

 

Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

 

5. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

 

Như vậy, để được hưởng án treo thì người bạn của bạn phải đáp ứng các điều kiện theo quy định nêu trên.

 

Trân trọng!
CV. Diệu Thu – Công ty Luật Minh Gia.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí