LS Vũ Thảo

Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động?

Tư vấn trường hợp nhân viên bán hàng tại showroom trong trung tâm trực thuộc của công ty A, có ký quỹ là 2 triệu đồng ( trong đó 500000đ là tiền đào tạo nhân viên) còn lại là 1.500.000 đ sẽ trả lại khi làm được 6 tháng tại công ty. ghỉ từ ngày 11/3/2018 nhưng đến nay là 18/4/2018 công ty vẫn chưa trả 10 ngày lương tháng 3, tiền ký quỹ và đặc biệt là 10% tiền thưởng. Doanh nghiệp đó làm vậy là đúng hay sai?

Nội dung câu hỏi: Em xin chào!Em tên là T.V. Hiện tại em đang là sinh viên năm hai. Em có một vài thắc mắc muốn được công ty giải đáp hộ ạ. Có một thời gian em đi làm thêm tại một công ty mỹ phẩm A.  Em là làm nhân viên bán hàng tại showroom trong trung tâm trực thuộc của công ty A. Khi vào làm em có ký quỹ là 2 triệu đồng( trong đó 500000đ là tiền đào tạo nhân viên) còn lại là 1.500.000 đ sẽ trả lại em khi em làm được 6 tháng tại công ty), mức lương cứng là 4.000.000 đ. Tháng nào em đạt được target thì sẽ được nhận thưởng trong đó công ty sẽ giữ lại 10% trên tổng số tiền thưởng nếu tháng đó em đạt doanh số. Nhưng do bận việc học nên em đã xin nghỉ và hoàn tất các thủ tục xin nghỉ việc ( đơn xin nghỉ việc, biên bản bàn giao hàng hoá (có xác nhận của cửa hàng trưởng)). Em nghỉ từ ngày 11/3/2018 nhưng đến nay là 18/4/2018 công ty vẫn chưa trả cho em 10 ngày lương tháng 3, tiền ký quỹ và đặc biệt là 10% tiền thưởng công ty có vẻ như không muốn trả cho em lại 10% thưởng. Vì em không hiểu rõ luật lao động,luật trả tiền lương như thế nào nên em muốn công ty giải đáp hộ em ạ. Doanh nghiệp đó làm vậy là đúng hay sai? ( trả tiền lương trễ, 10% tiền thưởng không trả lại) Em xin cảm ơn ạ.

 

Trả lời tư vấn: Cám ơn bạn đã gửi thông tin tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi giải quyết như sau:

 

Nếu bạn ký HĐLĐ với công ty hoặc không ký HĐLĐ với công ty nhưng chứng minh được quan hệ lao động của mình với công ty (bằng một số cách thức như: Văn bản xác nhận của những người cùng làm việc, bảng thanh toán tiền lương hàng tháng, xác nhận của kế toán,…) thì trách nhiệm công ty trong trường hợp này được quy định tại Điều 47 Bộ luật lao động 2012 như sau:

 

“1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

 

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

 

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

 

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.”

 

Theo đó, khi chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên phải có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản liên quan đến quyền lợi của mỗi bên trong vòng 7 ngày làm việc, có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày. Ngoài ra bên công ty phải có nghĩa vụ trả lại sổ BHXH và những giấy tờ khác mà công ty đang giữ của người lao động. Ở đây bạn đã nghỉ từ ngày 11/3/2018, do vậy công ty có nghĩa vụ trả lại cho bạn 1.500.000 đồng (theo thỏa thuận lúc đầu của các bên), 10 ngày lương tháng 3, 10% tiền thưởng theo quy định của công ty, trợ cấp thôi việc (nếu có) trong vòng 30 ngày kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ và các giấy tờ, sổ BHXH mà công ty đang giữ của bạn (nếu có).

 

Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp chưa nói rõ việc bạn nghỉ việc đã thỏa thuận với công ty hay bạn đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Theo quy định tại điều 37 Luật lao động 2012, người lao động được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong các trường hợp sau:

 

"1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

 

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

 

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

 

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

 

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

 

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

 

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

 

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

 

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

 

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

 

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

 

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

 

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này."

 

Nếu bạn đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không thuộc một trong các trường hợp theo quy định trên thì bị coi là trái pháp luật. Khi đó, theo Điều 43 Bộ luật lao động 2012 bạn sẽ không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho công ty nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Ngoài ra nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho công ty một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

 

Tóm lại bạn cần xem xét việc bạn chấm dứt HĐLĐ có đúng pháp luật hay không. Nếu bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì bạn phải bồi thường cho công ty nửa tháng tiền lương và một khoản tiền tương ứng nếu vi phạm thời hạn báo trước. Còn về phía công ty, dù bạn chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật hay trái pháp luật thì công ty phải có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ lương, nợ tiền thưởng và các khoản tiền khác theo thỏa thuận của các bên, đồng thời trả các giấy tờ mà công ty đang giữ của bạn.

 

Nếu công ty không trả cho bạn thì bạn có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết khiếu nại đến ban giám đốc công ty. Khi phía Công ty không giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng thì bạn có thể gửi đơn khiếu nại đến Phòng lao động-Thương binh xã hội. Nếu không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại của Thanh tra lao động thuộc Phòng lao động-Thương binh xã hội thì bạn có quyền gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi Công ty đặt trụ sở.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng.
CV tư vấn: Vũ Thảo - Luật Minh Gia

Hotline: 1900 6169