Hỏi đáp pháp luật Lao động

  • Tư vấn về nghỉ hưu trước tuổi khi suy giảm khả năng lao động

    • 02/03/2019
    • Bùi Thanh Hương
    • Nội dung đề nghị tư vấn: Kính thưa luật gia, cho tôi hỏi: Tôi sinh năm 1964, đi làm, có đóng bảo hiểm từ tháng 4 năm 1985. Hiện nay đang làm tại một công ty có 51% vốn của tư nhân và 49% là vốn của nhà nước, do việc điều chuyển công tác không phù hợp. Tôi đang làm thủ kho và luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ thì có quyết định điều chuyển tôi xuống làm công nhân dưới xưởng nên tôi muốn về hưu trước tuổi.

    Vậy với điều kiện của tôi như vậy tôi có thể xin về hưu tại thời điểm này được không? Xin luật gia tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.

    Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Luật Minh Gia, chúng tôi tư vấn cho trường hợp của bạn như sau:

    Căn cứ thông tin bạn cung cấp không rõ ràng, do đó bạn cần xem xét điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội như sau:

    “Điều 54. Điều kiện hưởng lương hưu

    1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;

    b) Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên;

    c) Người lao động từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò;

    d) Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.

    ...”

    Nếu bạn không đáp ứng đủ điều kiện nêu trên, có thể xem xét nghỉ hưu khi suy giảm khả năng lao động theo quy định tại Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội 2014:

    “Điều 55. Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động

    1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật này khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 54 của Luật này nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động. Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên;

    b) Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

    c) Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành.

    ...”

    Nếu đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên, bạn có thể nghỉ việc để hưởng chế độ hưu trí. Mức hưởng chế độ hưu trí được thực hiện theo quy định tại Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội 2014:

    “...

    2. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này và tương ứng với số năm đóng bảo hiểm xã hội như sau:

    a) Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm;

    b) Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm.

    Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản này được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.

    3. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 55 của Luật này được tính như quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.

    Trường hợp tuổi nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 06 tháng thì mức giảm là 1%, từ trên 06 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm do nghỉ hưu trước tuổi.

    ...”

     
    Ngoài ra, bạn tham khảo nội dung tư vấn áp dụng Văn bản pháp luật tại thời điểm gửi câu hỏi như sau: 

    Theo quy định tại 51 Luật bảo hiểm xã hội 2006, người lao động được nghỉ hưu trước tuổi khi bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên hoặc có đủ 15 năm làm công việc nặng nhọc, độc hại:

    Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 2 của Luật này đã đóng bảo hiểm xã hội đủ hai mươi năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại Điều 50 của Luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Nam đủ năm mươi tuổi, nữ đủ bốn mươi lăm tuổi trở lên;

    2. Có đủ mười lăm năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành. 

    Như vậy, để được người sử dụng lao động đồng ý ra quyết định nghỉ hưu, bác cần có bản giám định suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên hoặc chứng minh có 15 năm làm công việc nặng nhọc. Để tìm hiểu công việc của bác có thuộc công việc nguy hiểm, độc hại hay không bác tìm hiểu tại Danh mục nghề, công việc độc hại, nguy hiểm do Bộ lao động, thương binh, xã hội ban hành. Nếu bác muốn giám định suy giảm khả năng lao động, bác cần thực hiện theo thủ tục tại Điều 9 Thông tư 07/2010/TT-BYT:

    1. Người sử dụng lao động hoặc cơ quan BHXH cấp tỉnh hoặc Hội đồng GĐYK cấp tỉnh hoặc cấp trung ương có trách nhiệm yêu cầu người lao động hoặc thân nhân người lao động (đối với các trường hợp khám để thực hiện chế độ tử tuất) nộp các giấy tờ có liên quan, lập, hoàn chỉnh hồ sơ theo đúng quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8 của Thông tư này và chuyển hồ sơ giám định của người lao động hoặc thân nhân người lao động đến Hội đồng GĐYK cấp tỉnh hoặc cấp TW.

    2. Sau khi tiếp nhận hồ sơ giám định hợp lệ, chậm nhất là trong thời gian 15 ngày làm việc, người sử dụng lao động hoặc cơ quan BHXH cấp tỉnh có trách nhiệm chuyển hồ sơ giám định đến Hội đồng GĐYK cấp tỉnh hoặc cấp trung ương.
    Nếu hồ sơ giám định không hợp lệ, người sử dụng lao động hoặc cơ quan BHXH cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho người lao động hoặc thân nhân người lao động.

    Một điểm đáng lưu ý, từ 01/01/2016 Luật bảo hiểm xã hội 2014 sẽ có hiệu lực và luật mới quy định khi muốn giám định suy giảm khả năng lao động, người lao động không cần giấy giới thiệu của người sử dụng lao động nữa. Nếu bác muốn thủ tục đơn giản hơn thì có thể để đến năm 2016 mới thực hiện.

    Trân trọng.

    CV Khánh Linh - Công ty Luật Minh Gia

    Hotline: 1900.6169