Vy Huyền

Sai phạm khi xử lý kỷ luật đối với lao động nữ mang thai

Luật sư tư vấn về sai phạm của người sử dụng lao động khi xử lý kỷ luật sa thải đối với lao động nữ mang thai và không ký kết hợp đồng trong thời gian hợp lý với người lao động như sau: Tôi hiện đang công tác tại công ty tư nhân, vào thử việc tại công ty trong thời gian từ 6/2014 đến tháng 8/2014 chính thức làm việc. Nhưng HCNS đã chậm trễ thời gian kí hợp đồng tới tận tháng 1/2015 mới kí hợp đồng và bắt đầu đóng bảo hiểm.

Trong quá trình làm viêc tôi nhận quyết định thôi việc với lý do: ý thức kém. Quyết định tới ngày 1/8/2015 bắt đầu nghỉ việc. Trong giai đoạn này tôi đang có bầu tháng thứ 4 và sắp cưới vào tháng 8.
 
Vậy quý công ty cho tôi hỏi liệu tôi có được đền bù hay chế độ thai sản tôi có được hưởng không nếu đóng bảo hiểm đến hết tháng 7. Xin cảm ơn
 
Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi nội dung đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
 
Theo Nghị định 95/2013/NĐ-CP công ty của bạn đã có những sai phạm sau trong quá trình làm việc của bạn.
 
1. Không giao kết hợp đồng với người lao động sau thời gian thử việc – Điều 5.
 
2. Sai phạm trong việc xử lý kỷ luật sa thải – Điều 18
 
Cụ thể:
 
1. Điều 27 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về thời gian thử việc như sau:

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:
 
1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;
 
2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.
 
3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.
 
Bên cạnh đó, Điều 29 quy định khi kết thúc thời gian thử việc:
 
1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.
 
2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.
 
Như vậy, sau khi chấm dứt hợp đồng thử việc, bên công ty phải thông báo cho bạn về việc bạn đã đáp ứng được yêu cầu công việc của công ty hay chưa. Nếu bạn đã đáp ứng thì ngay sau đó công ty phải có trách nhiệm ký hợp đồng lao động với bạn. Do vậy, từ tháng 8/2014 đến tháng 1/2015 công ty đã vi phạm trong việc làm việc mà không ký kết hợp đồng với người lao động.
 
2. Về hình thức kỷ luật sa thải, Điều 126 quy định áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải như sau
 
1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;
 
2. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.
 
Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này;
 
3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.
 
Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.
 
Thứ nhất, không có lý do sa thải nào là “ý thức kém” cả. Trừ trường hợp theo khoản 2, bạn đã bị xử lý kỉ luật kéo dài thời hạn nâng lương do ý thức kém mà vẫn tái phạm.
 
Thứ hai, Điều 123 có quy định về nguyên tắc, trình tự xử lý kỷ luật lao động:
 
1. Việc xử lý kỷ luật lao động được quy định như sau:
 
a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;
 
b) Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở;
 
c) Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; trường hợp là người dưới 18 tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật;
 
d) Việc xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản.
 
2. Không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động.
 
3. Khi một người lao động đồng thời có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động thì chỉ áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.
 
4. Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:
 
a) Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;
 
b) Đang bị tạm giữ, tạm giam;
 
c) Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 Điều 126 của Bộ luật này;
 
d) Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.
 
5. Không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
 
Bạn đang mang thai và do đó việc xử lý kỷ luật này là trái với quy định của Bộ luật lao động năm 2012 về xử lý kỷ luật đối với người lao động.
 
Nhìn chung việc công ty sa thải bạn là không đúng quy định pháp luật và biện pháp khắc phục sẽ theo Điều 42 về Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
 
1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
 
2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.
 
3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
 
4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
 
5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.
 
Do vậy, trước mắt bạn sẽ viết đơn khiếu nại lên giám đốc công ty yêu cầu giải trình về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật này, cùng với cơ sở pháp lý. Trong trường hợp họ không trả lời hoặc không có căn cứ hợp pháp luật cụ thể, bạn có thể nộp đơn khiếu nại lên Phòng lao động thương binh và xã hội nơi bạn làm việc để thanh tra xuống kiểm tra và giải quyết đòi lại quyền lợi cho bạn.

 

Trân trọng.
Luật gia: Trần Hoàng Việt – Công ty Luật Minh Gia

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí