Lại Thị Nhật Lệ

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, có những trường hợp xảy ra mà một trong hai bên hoặc cả hai bên đều có nhu cầu chấm dứt quan hệ lao động. Việc chấm dứt hợp đồng lao động tùy từng trường hợp có thể dẫn đến các hậu quả pháp lý khác nhau.

1. Luật sư tư vấn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng là quyền cơ bản của cả người lao động và người sử dụng lao động là một trong những quy định được ghi nhận trong Bộ luật lao động. Tuy nhiên, quyền chấm dứt hợp đồng lao động của mỗi bên lại có những khác biệt nhất định mà cả người lao động và người sử dụng lao động nên nắm rõ để tránh các nhầm lẫn xảy ra trong quá trình áp dụng.

Nếu người lao động hoặc người sử dụng lao động không đáp ứng được các quy định của pháp luật khi thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của mình sẽ dẫn đến hậu quả liên quan đến bồi thường thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Trên thực tế đã ghi nhận rất nhiều trường hợp cả người lao động và người sử dụng lao động thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng không đáp ứng được các quy định của pháp luật dẫn đến những hậu quả đáng tiếc xảy ra. Nếu bạn đang có nhu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp của bạn đang có nhu cầu chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động thì nên có sự tìm hiểu trước các quy định của pháp luật về vấn đề này. Bạn có thể liên hệ với Công ty Luật Minh Gia thông qua các hình thức như gửi Email tư vấn hoặc gọi tới số 1900.6169 để được bộ phận tư vấn pháp luật của chúng tôi giải đáp cụ thể các vấn đề này.

2. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Câu hỏi: Kính gủi quý công ty

Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn quý Công ty đã dành cho chúng tôi một dịch vụ miễn phí đầy tiện ích giúp chúng tôi giải quyết các băn khoan cũng như vướng mắc của mình.

Hôm nay tôi gửi Mail này tới quý Công ty với một vướng mắc nhỏ, kính mong quý Công ty trả lời giúp:

Tháng 12/2011 tôi chính thức bắt đầu vào làm việc cho công ty tư vấn có tên, tới ngày 28/07/2016 tôi chính thức viết đơn xin nghỉ việc tại công ty vì công việc ít, không đảm bảo. Ngày tối vào  tháng 12/2011 tôi có ký hợp đồng không kỳ hạn với Giám đốc công ty, trong hợp đồng tôi ký cũng có nêu lương của tôi sẽ nhận theo chế độ “Khoán sản phẩm”, hằng tháng Công ty vẫn cho tôi cùng toàn thể các nhân viên trong công ty ứng lương theo mức lương cơ bản tại thời điểm hiện hành, Chúng tôi làm việc theo yêu cầu của công ty 8h/ngày trừ ngày nhật ( 7h30-11h30; 13h30-17h30); ngoài ra khi công việc yêu cầu chúng tôi phải làm ca tối, ngày chủ nhật để đáp ứng yêu cầu công việc. Ngoài công việc chính làm kỹ thuật, tôi vẫn tham gia các công việc khác.

Hằng năm công ty vẫn tiến hành tổng kết sản phẩm các nhân viện trong công ty và chúng tôi nhận được 02 bản tổng kết sản phẩm; 01 kết quả chúng tôi dương sản phẩm ( Được nhận tiền về) và 01 kết quả âm ( Gọi là âm sản phẩm vì ứng hằng tháng); tới ngày tôi gửi đơn xin nghỉ 28/07/2016 Công ty yêu cầu tôi thanh toán số tiền là 99 triệu ( sau khi đã trừ đi sản phẩm của tôi, từ các công trình tôi làm) mới chấp thuận cho nghỉ việc.

Hiện tại một số chứng chỉ do bản thân tôi học ngày còn làm tại công ty, cũng như BHXH công ty giữ lại với lý do tôi chư hoàn trả phần ứng lương hằng tháng -99 triệu và công ty thường xuyên đòi tôi số tiền nêu trên.

Vậy kính mong quý công ty giải đáp giúp thắc mắc của tôi là:

Công ty khi đã yêu cầu chúng tôi làm 8h/ngày và 6 ngày/1 tuần thì phải trả lương chúng tôi theo lương hành chính, công ty yêu cầu tôi hoàn trả số tiền kia là đúng hay sai ?

Công ty có quyền giữ các chứng chỉ và BHXH của tôi hay không ? và đòi lại bằng cách nào ?

Số liệu báo cáo thuế của công ty với cơ quan thuế chúng tôi đều không âm, nhưng công ty lại đòi tôi hoàn trả số tiền trên cái này đúng hay sai theo luật định? Và tôi có thể đến cơ quan nào để yêu cầu giải quyết vấn đề này ?

Tôi xin chân thành cảm ơn

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tư vấn đến công ty Luật Minh Gia. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ theo Điều 90 bộ luật lao động năm 2012 quy định về tiền lương:

“1. Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận.
Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.
Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định.

2. Tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc.

3. Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau.”

Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận, người sử dụng lao động có thể trả cho người lao động theo thời gian, theo công việc, theo sản phẩm, theo doanh thu v.v.. Công ty bạn có thể thỏa thuận với người lao động trả lương khoán theo sản phẩm. Tuy nhiên, mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định. Nếu công ty bạn thực hiện trả lương khoán theo sản phẩm và người lao động thực hiện công việc dẫn đến âm sản phẩm, người lao động phải trả lại khoản tiền hàng tháng cho công ty là trái với quy định của pháp luật. 

Căn cứ theo khoản 3 điều 37 bộ luật lao động năm 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động. 

“3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.”

Hợp đồng lao động của bạn là hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Do đó, bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải thực hiện báo trước 45 ngày. Hết thời gian báo trước bạn có quyền nghỉ việc không phụ thuộc vào việc người sử dụng lao động có đồng ý hay không. 

Căn cứ theo Điều 47 bộ luật lao động năm 2012 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

“1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.”

Như vậy, trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động. Người lao động phải chi trả các khoản tiền bồi thường nếu gây thiệt hại hoặc các khoản nợ của công ty (nếu có). Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn nếu khoản tiền 99 triệu đồng là do tiền khoán âm sản phẩm hoặc khoản tiền mà công ty làm ăn thua lỗ yêu cầu bạn bồi thường (bạn không có lỗi) thì bạn không có trách nhiệm phải trả cho công ty. Mặt khác, nếu doanh nghiệp không được giữ sổ bảo hiểm xã hội của người lao động với lý do người lao động chưa chi trả tiền cho NSDLĐ. Nếu doanh nghiệp giữ sổ bảo hiểm thì bạn có thể thông qua hòa giải viên lao động, khởi kiện ra Tòa án hoặc gửi đơn lên phòng lao động thương binh và xã hội để yêu cầu giải quyết.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Gọi ngay