Cà Thị Phương

Quy định pháp luật về thời gian thử việc theo Luật lao động 2012

Chào Luật sư, Em có thắc mắc như sau: 1- Công ty X ký hợp đồng thử việc với em là 3 tháng, như vậy công ty X có phạm luật hay không ? 2- Sau khi kết thúc thời hạn thử việc như trên, công ty vẫn sử dụng sức lao động của em được 2 tháng mà không cho em ký hợp đồng lao động chính thức dù rằng em đã nhiều lần yêu cầu. Như vậy, hợp đồng của em có phải mặc nhiên chuyển thành hợp đồng không xác định thời hạn hay không ? 3- Họ nói rằng do nhân lực quá nhiều và doanh thu không đủ chi nên họ quyết định.

 

Quy định pháp luật về thời gian thử việc theo Luật lao động 2012


Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc về cho Luật Minh Gia, về vấn đề của bạn chúng tôi xin được  trả lời như sau:

1. Việc công ty X ký hợp đồng thử việc 3 tháng với bạn là vi phạm pháp luật. Bởi theo quy định tại điều 27 Luật lao động năm 2012 về thời gian thử việc thì tùy vào trình độ chuyên môn, kỹ thuật mà có các thời gian thử việc khác nhau. Bạn có thể đối chiếu vào điều luật để xác định thời gian thử việc do pháp luật quy định. Còn việc bạn thử việc đến tận 3 tháng thì công ty X đã vi phạm quy định pháp luật về thời gian thử việc.

“Điều 27. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác”.


2. Sau khi kí hợp đồng 3 tháng với bạn mà công ty vẫn sử dụng sức lao động của bạn được 2 tháng mà không cho bạn ký hợp đồng lao động chính thức dù rằng bạn đã nhiều lần yêu cầu.
"Điều 22. Loại hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;
Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.
Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

3. Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác”.


Trong trường hợp của bạn theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 22 luật lao động năm 2012 về loại hợp đồng lao động thì hợp đồng mà công ty X kí kết với bạn 3 tháng được xem là Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng. Và khi hợp đồng lao động quy định tại điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới. Tuy nhiên công ty X lại không ký tiếp hợp đồng với bạn dù bạn đã nhiều lần yêu cầu và bạn đã tiếp tục làm việc được 2 tháng. Nên nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Như vậy, hợp đồng của bạn không thể mặc nhiên chuyển thành hợp đồng không xác định thời hạn được mà chỉ có thể chuyển thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn xác định là 24 tháng.

3. Hợp đồng lao động của bạn đã mặc nhiên trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn xác định là 24 tháng nên công ty X lấy lý do nhân lực quá nhiều và doanh thu không đủ chi nên họ quyết định không ký tiếp hợp đồng chính thức với bạn dù rằng sau khi kết thúc thời gian thử việc bạn đã làm được 2 tháng. Công ty X chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn trong các trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật lao động 2012 về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

“1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này”.


Tuy nhiên, chỉ lấy lý do như trên thì công ty X không được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn, việc công ty X đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn với lý do không thuộc quy định tại khoản 1 điều 38 luật lao động 2012 như trên thì công ty X đã đơn phương châm dứt hợp đồng trái luật (theo quy định tại điều 41 luật lao động 2012). Theo đó, trong trường hợp của bạn, công ty X sẽ phải thực hiện các nghĩa vụ quy định tại điều 42 luật lao động năm 2012:

“Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước”.

 

Trân trọng !
CV : Nguyễn Thùy - Công ty Luật Minh Gia

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Tư vấn miễn phí