Luật gia Nguyễn Nhung

Tư vấn về việc chồng vay nợ thì vợ có phải chịu trách nhiệm liên đới không?

Luật sư tư vấn về trách nhiệm liên đới trả nợ chung với chồng trong trường hợp chồng vay nợ để làm ăn mà vợ không biết. Quy định của pháp luật về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, trách nhiệm pháp lý khi vay tài sản nhưng đến hạn không trả được nợ theo quy định của pháp luật. Nếu gặp vấn đề này cần tư vấn, hỗ trợ bạn hãy liên hệ đến công ty Luật Minh Gia chúng tôi để được hỗ trợ một cách tốt nhất.

1. Tư vấn về trách nhiệm liên đới của vợ chồng.

Thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới trong thười kỳ hôn nhân là một trong những quan hệ pháp luật được luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Theo đó vợ chồng có trách nhiệm liên đới đối với những khoản vay để phục vụ, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu đối với cuộc sống của vợ chồng. Tuy nhiên trên thực tế, vì một vài lí do khách quan nên có những giao dịch liên quan đến tài sản chung chỉ do một bên chồng hoặc vợ thực hiện. Đặc biệt là việc vay mượn của một bên vợ chồng để phục vụ những mục đích như kinh doanh, buôn bán mà người còn lại không hề hay biết . Vậy, trong trường hợp này vấn đề về trách nhiệm pháp lý sẽ được đặt ra như thế nào? Nếu bạn gặp vấn đề này nhưng không có thời gian tìm hiểu quy định của pháp luật, bạn hãy liên hệ đến công ty Luật Minh Gia bằng cách gửi câu hỏi tư vấn hoặc Gọi  1900.6169, luật sư sẽ tư vấn cho bạn những nội dung sau:

+ Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng ;

+ Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng ;

+ Trách nhiệm pháp lý đối với việc vay nợ không trả được ;

2. Tư vấn về việc chồng vay nợ thì vợ có phải chịu trách nhiệm liên đới không?

Câu hỏi: Chào luật sư, tôi cần ttư vấn về trường hợp một bên vợ chồng vay nợ thì bên còn lại có nghĩa vụ gì? cụ thể như sau: Thời điểm tháng 7 năm 201x tôi có vay tiền của 5 người (vay lãi ngày 3 ngàn/ ngày/1 triệu) để làm ăn với tổng số tiền 500 triệu đồng chẵn. Nhưng do bị thất thoát vốn tôi không trả được nợ. Chuyện vay lãi là của cá nhân tôi. Vợ tôi không biết và cũng không biết tôi làm ăn việc gì. 

Hiện tại tôi không ở địa phương làm ăn và đa chuyển đi nơi khác. Nhưng tôi vẫn liên lạc với các chủ nợ và hứa làm và sẽ trả dần.Tháng 4 năm 2016 Có một người đã đâm đơn kiên lên tòa án thành phố kiện tôi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. (Trước đó người này đã dọa tôi không trả sẽ thuê dân xã hội đen đòi nợ).Vợ chồng tôi chỉ có một căn nhà trị giá khoảng 300 triệu đồng. Nhưng là tài sản chung của hai vợ chồng tôi.Tôi muốn hỏi:

1/ Vợ tôi không liên quan đến khoản vay thì vợ tôi có phải chịu trách nhiệm về khoản nợ của tôi không?

2/ Trường hợp bán nhà và yêu cầu toà án đứng ra trả hộ cho các chủ nợ số tiền trả nợ không đủ và tôi hứa sẽ trả phần còn thiếu cho các chủ nợ trong tương lai. Thì căn cứ vào luật tôi có bị chịu trách nhiệm hình sự không?

3/ Trường hợp vay tiền không viết giấy tờ, chỉ có tin nhắn qua điện thoại. Nhưng không nhận tiền trực tiếp mà thông qua chuyển khoản bên thứ 3 (tức là tôi vay tiền nhưng người cho vay lại chuyển sang cho 1 người khác thì người thứ 3 nhận tiền kia liên quan gì trong vụ này không?

4/ Hiện nay vợ chồng tôi đang trong thời hạn nộp đơn ra tòa ly hôn thì việc chủ nợ kiện tôi ra tòa có ảnh hưởng đến việc chúng tôi ly hôn hay không?

Kính mong Công ty và Luật sư sự giúp đỡ tư vấn của cho tôi trong các trường hợp trên.Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến công ty Luật Minh Gia chúng tôi, công ty xin tư vấn trường hợp này của bạn như sau:

Do file đính kèm bạn gửi cho chúng tôi không đọc được nên căn cứ vào các thông tin bên trên bạn cung cấp chúng tôi xin trả lời bạn như sau:

Thứ nhất, vợ bạn có phải chịu trách nhiệm về khoản nợ không?

Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

“Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.”

Ngoài ra thì Khoản 2 Điều 37 có quy định:

“Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;”

Theo đó, các giao dịch mà do một bên vợ hoặc chồng xác lập để nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ và chồng phải chịu trách nhiệm liên đới.

Trong trường hợp của bạn, nếu khoản tiền bạn vay dùng để sử dụng vào nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình như: chi phí sửa chữa, xây dựng nhà ở, chăm sóc sức khỏe các thành viên trong gia đình; việc học hành của các con…thì dù bạn không bàn bạc với vợ bạn và vợ bạn cũng không ký vào hợp đồng vay thì về nguyên tắc, vợ bạn cũng phải có nghĩa vụ liên đới trả khoản nợ đó cùng với bạn.

Còn nếu bạn chứng minh được khoản tiền bạn vay để sử dụng với mục đích cá nhân, cụ thể trường hợp của bạn là làm ăn riêng và vợ bạn cũng không biết đến việc vay nợ này thì vợ bạn không có nghĩa vụ liên đới trả khoản vay đó.

Thứ hai, bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 như sau:

“Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Như vậy, bạn phải có thủ đoạn gian dối để nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt thì mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Nếu trường hợp của bạn, bạn chứng minh được rằng bạn không chiếm đoạt tài sản cũng như không có thủ đoạn gian dối thì bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm về tội này.

Ngoài ra, Bộ luật Hình sự quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

“Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

...”

Như vậy, theo quy định trên, nếu bạn vay tiền bằng hợp đồng rồi dung thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm a. Còn nếu bạn vay tiền mà sử dụng số tiền đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm b.

Trong trường hợp của bạn, nếu bạn chứng minh được việc mình không ở địa phương không nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hoặc bạn không có khả năng trả số tiền đó không phải do sử dụng vào mục đích bất hợp pháp thì bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ ba, người nhận tiền có liên quan gì không?

Do thông tin bạn hỏi không rõ ràng nên chúng tôi không hiểu ý bạn muốn hỏi ở đây liên quan là liên quan về vấn đề gì, liên quan như thế nào.

Nếu chỉ như thông tin bạn cung cấp thì người này chỉ đứng ra nhận số tiền này thay cho bạn thì sẽ không có liên quan gì đến việc bạn vay nợ với bên cho vay.

Thứ tư, việc bạn ly hôn có bị ảnh hưởng không?

Việc bạn bị kiện sẽ không ảnh hưởng đến việc ly hôn. Khi ly hôn nếu hai vợ chồng bạn tự thỏa thuận được việc phân chia tài sản cũng như các nghĩa vụ thanh toán chung về tài sản thì sẽ thực hiện theo thỏa thuận. Còn nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ căn cứ vào chứng cứ, lời khai để đánh giá, kết luận có hay không việc vay nợ; mục đích vay nợ, việc sử dụng tài sản vay nợ cho nhu cầu chung của gia đình, hay nhu cầu riêng của bạn. Từ đó, giải quyết về vấn đề tài sản khi ly hôn.

Trên đây là nội dung tư vấn về: Tư vấn về việc chồng vay nợ thì vợ có phải chịu trách nhiệm liên đới không? Nếu còn vướng mắc, chưa rõ bạn liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân gia đình để được giải đáp.

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Tư vấn miễn phí