Triệu Lan Thảo

Tư vấn ly hôn, giành quyền nuôi hai con?

Chào luật sư,.em đang rất bế tắc và nghĩ đến việc giải thoát mình khỏi cuộc hôn nhân này. Vợ chồng em kết hôn được 9 năm. Hiện nay e có hai cháu một cháu gái 8 tuổi và cháu trai 5 tuổi.

Chào luật sư,.em đang rất bế tắc và nghĩ đến việc giải thoát mình khỏi cuộc hôn nhân này. Vợ chồng em kết hôn được 9 năm. Hiện nay e có hai cháu một cháu gái 8 tuổi và cháu trai 5 tuổi. Hai vợ chồng em đều làm nghề tại nhà chúng e đang ở. Khoảng 1 năm nay chúng em có những mâu thuẫn mà khó đi đến thống nhất giữa hai bên nên em muốn ly hôn. Nhưng do công việc của em và chồng là công việc trước đấy a ấy đã làm nên em ko có việc làm ổn định và độc lập. Nhà đất chúng em ở tuy là nhà cả hai vợ chồng làm sau khi cưới nhưng sổ đỏ đất vẫn đứng tên ông nội (tức bố chồng em). Nếu giờ e ly hôn thì vấn đề tài sản sẽ được chia như thế nào ạ? Em đang xin việc làm để đảm bảo về kinh tế. Trường hợp của em nếu ly hôn thì có thể được nuôi cả hai bé hay không? Nếu em muốn nuôi cả hai con thì có được không? Chồng em là người không được học hành nhiều nên trong cuộc sống hằng ngày hay có những lời lẽ không mấy văn hóa khi dạy bảo các con, đặc biệt là những lúc bực tức. Em rất lo lắng cho sự phát triển của các con sau này. Thậm chí anh ấy đã có lần đánh con gái của chúng em chảy cả máu mồm,em thực sự không nỡ giao con cho một người như anh ấy. Em rất muốn được tư vấn về vấn đề này,em có thể không cần tài sản gì hết nhưng em muốn các con bên cạnh và dạy bảo chúng một cách tốt nhất.mong luật sư tư vấn giúp em,em xin chân thành cảm ơn ! 

Trả lời tư vấn: Cảm ơn chị đã tin tưởng và gửi câu hỏi tới Công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của chị chúng tôi tư vấn như sau:

Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 có quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Điều 61 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định như sau:

"Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

Mặt khác, tại Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 có quy định “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”

Hiện tại thì mảnh đất đó vẫn đứng tên bố chồng chị, vì vậy theo quy định trên thì bố chồng chị mới là chủ sử dụng hợp pháp của mảnh đất mà bố chồng chị đứng tên. Tuy nhiên thì căn nhà lại là tài sản của vợ chồng chị. Vì vậy nên khi ly hôn, giá trị của căn nhà sẽ vẫn được chia đôi theo như Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình. Cụ thể: 

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

... 

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. 

..." 

Trong trường hợp, chị muốn nhận nuôi cả hai cháu, theo quy định của Pháp luật Hôn nhân gia đình có quy định như sau :

Điều 81: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Như vậy việc xác định người trực tiếp nuôi con khi vợ chồng ly hôn sẽ ưu tiên sự thỏa thuận của vợ chồng, tòa án sẽ công nhận sự thỏa thuận đó. Nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết.

Trong trường hợp tòa án giải quyết thì: Đối với cháu bé thứ 1 đã 8 tuổi thì Tòa phải xem xét nguyện vọng của cháu muốn ở với bố hay mẹ. Cháu bé thứ 2 đã 5 tuổi thì cả chông chị và chị đều có quyền nuôi cháu. Bên cạnh đó Tòa án còn xem xét đến các yếu tố sau đây để đưa ra quyết định:

 - Điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập… mà mỗi bên dành cho con, yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;

 - Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm dành cho con, điều kiện cho con vui chơi giải trí, trình độ học vấn… của cha mẹ.

Như vậy, để giành quyền nuôi 2 cháu, ngoài nguyện vọng của con thì chị cần phải chứng minh với Tòa án khả năng của mình về việc có thể nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai con như: tình hình sức khỏe, điều kiện về chỗ ở, việc làm, thu nhập hàng tháng, điều kiện chăm sóc, giáo dục…Bên cạnh đó,chị cũng cần đưa ra bằng chứng chứng minh được rằng người chồng không nuôi dạy con tốt vì không quan tâm, chăm sóc con, không có thời gian hoặc có những hành vi bạo lực….như chị đã chia sẻ “chồng em là người không được học hành nhiều nên trong cuộc sống hằng ngày hay có những lời lẽ không mấy văn hóa khi dạy bảo các con,đặc biệt là những lúc bực tức.em rất lo lắng cho sự phát triển của các con sau này.thậm chí anh ấy đã có lần đánh con gái của chúng em chảy cả máu mồm”.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.
 CV tư vấn: Hoàng Thủy Tiên - Luật Minh Gia

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí