Hỏi đáp Hôn nhân Gia đình

  • Thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có cần công chứng không?

    • 25/04/2018
    • Nguyễn Thị Nhàn
    • Tư vấn trường hợp vợ chồng muốn thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì lập thành văn bản như thế nào? Có cần phải làm thủ tục công chứng không? Nội dung tư vấn như sau:

    Nội dung câu hỏi: Kính chào Luật sư! Tôi hiện sinh sống tại Mỹ. Năm 2010 tôi về Việt Nam cưới vợ và sinh được 2 con. Nay tôi chuẩn bị đón vợ và 2 con qua Mỹ định cư với tôi. Khi đám cưới năm 2010, vợ tôi đã cam kết (bằng miệng) rằng sẽ từ bỏ mọi quyền lợi về phân chia tiền bạc, tài sản có được trong hôn nhân với tôi nếu xãy ra trường hợp ly dị. Tức là cô ấy cam kết không đòi hỏi bất cứ thứ gì khi ly hôn, kể cả những quyền lợi mà pháp luật cho phép hưởng từ cuộc hôn nhân. Nay tôi nhắc lại cam kết đó, và cô ấy đồng ý viết ra giấy để sau này làm bằng chứng nếu tôi cần. Vậy xin Luật sư tư vấn giùm tôi: 1/ Bản cam kết đó cần được viết chi tiết như thế nào? 2/ Có cần công chứng để xác nhận là chính cô ấy cam kết không? Cơ quan nào có thể chứng nhận cho bản cam kết này? Rất cảm ơn Luật sư!

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cần tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia, với những thắc mắc của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

    Thứ nhất, về vấn đề thỏa thuận chia tài sản chung trong thời ký hôn nhân.

    Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, Điều 38 quy định như sau:

    “1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.”

    Như vậy, căn cứ theo quy định này hai vợ chồng bạn có quyền thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, việc thỏa thuận chia tài sản chung của hai vợ chồng bạn trong thời kỳ hôn nhân phải không thuộc trường hợp cấm được quy định tại Điều 42 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

    Điều 42 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu như sau:

    “Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

    2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

    a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;

    b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

    c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;

    d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;

    đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

    e) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

    Nếu bạn và vợ có ý định thỏa thuận chia tài sản trong hôn nhân cần lập thành văn bản cụ thể, trong nội dung văn bản nên nêu rõ tại thời điểm phân chia có những tài sản chung của hai vợ chồng bạn bao gồm những tài sản nào? và thỏa thuận chia cho chồng hưởng hết số tài sản đó . Tuy nhiên, việc thỏa thuận phân chia tài sản đối với trường hợp của bạn cần lưu ý đến lợi ích của gia đình, quyền và lợi ích của con chưa thành niên. Nếu thỏa thuận này của vợ chồng bạn vi phạm quy định tại Điều 42 đã nêu trên thì thỏa thuận này không có giá trị. Bạn có thể tham khảo mẫu văn bản thả thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân tại đây.

    Thứ hai, về vấn đề công chứng văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

    Khoản 2 Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau:

    “2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.”

    Căn cứ theo quy định này thì văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân phải được lập thành văn bản, nếu chia bất động sản và động sản có đăng ký thì bắt buộc phải công chứng/ chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền. Do đó, đối với trường hợp của bạn, bạn nên mang văn bản đã thỏa thuận giữa hai vợ chồng đến văn phòng công chứng nơi bạn đang sinh sống hoặc đến phòng công chứng thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường để làm thủ tục công chứng văn bản thỏa thuận. Khi đến công chứng, cả hai bạn phải cùng có mặt để xác định nội dung thỏa thuận là đúng sự thật, việc thỏa thuận này hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện giữa các bên.

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

    Trân trọng.
    CV tư vấn: Nguyễn Nhàn - Luật Minh Gia

Bài viết nổi bật
 Gửi yêu cầu tư vấn