Hỏi đáp Hôn nhân Gia đình

  • Phân chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp đã có văn bản thỏa thuận về một phần tài sản?

    • 20/07/2018
    • Bùi Thanh Hương
    • Luật sư tư vấn trường hợp vợ chồng ly hôn nhưng có văn bản thỏa thuận một phần tài sản là của riêng vợ, vậy phần tài sản đó có được đưa vào phân chia? và giải quyết phân chia tài sản khi ly hôn của vợ chồng được thực hiện theo nguyên tắc nào?

    Câu hỏi: Anh bạn tôi lập gia đình được 20 năm, trong quá trình hôn nhân hai vợ chồng có mua được 5 lô đất và một ngôi nhà (ngôi nhà do cha vợ cho). Năm lô đất trên thì có 4 lô chỉ đứng tên vợ (có giấy thỏa thuận- "Tải sản này chỉ của vợ và con" mục đích người chồng muốn tạo cho vợ niềm tin), còn 1 lô hai người đứng tên. Số tài sản trên đều do hai người làm ra và hàng tháng trích từ tiền lương ra để trả tiền vay cho ngân hàng. Trong hôn nhân hai vợ chồng bạn tôi đều có thu nhập cao và đến nay đã có 2 con trai một cháu 18 tuổi và một cháu 16 tuổi. Tuy nhiên hiện nay trong chuyện tình cảm có sự rạn nứt, người vợ đơn phương nộp đơn ra tòa xin ly hôn. Xin hỏi Luật sư: Trong trường hợp này việc phân chia tài sản như thế nào?Xin chân thành cảm ơn Luật sư

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng lựa chọn tư vấn bởi Công ty Luật Minh Gia, chúng tôi xin tư vấn cho trường hợp của bạn như sau:

    Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn được quy định tại Điều 59 – Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

    Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

    1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

    Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

    2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

    a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

    b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

    c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

    d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

    3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

    4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

    Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

    5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

    6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

    Theo quy định trên thì việc phân chia tài sản khi ly hôn được xác định trên cơ sở chỉ chia đôi những tài sản chung của vợ và chồng mà có tính đến một số yếu tố luật định, phần tài sản riêng chỉ được chia nếu tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo thủ tục hợp pháp. Tuy nhiên, vấn đề chia tài sản của vợ và chồng khi ly hôn luôn ưu tiên sự thỏa thuận giữa các đương sự trước khi áp dụng quy tắc chia tài sản theo luật.

    Tức là, nếu vợ và chồng có thể thỏa thuận thống nhất việc phân chia tài sản chung khi ly hôn thì Tòa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự trước khi áp dụng các nguyên tắctheo quy định tại Điều 59 – Luật Hôn nhân và gia đình 2014 để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

    Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định về phân chia tài sản tại Điều 59 và các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân gia đình 2014, nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn được hướng dẫn cụ thể tại Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP

    Điều 7. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

    1. Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:

    a) Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn;

    b) Trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 59 và các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân và gia đình để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

    2. Khi giải quyết ly hôn nếu có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thì Tòa án xem xét, giải quyết đồng thời với yêu cầu chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

    3. Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.

    4. Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

    a) “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

    b) “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

    c) “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

    d) “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

    5. Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.

    6. Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

    Trong trường hợp của anh, người vợ gửi đơn yêu cầu giải quyết ly hôn đơn phương, vậy tài sản cũng được chia dựa trên sự thỏa thuận của hai vợ chồng đó. Nếu không thỏa thuận được, Tòa án sẽ áp dụng các nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn để giải quyết.

    Về 4 lô đất chỉ đứng tên người vợ, nhưng chưa hẳn được coi là tài sản riêng của cô này, bởi Điều 26 – Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

    Điều 26. Đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng

    1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Luật này.

    2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.

    Như vậy, đối với tài sản đứng tên vợ hoặc chồng nhưng vẫn có thể xác định đây là tài sản chung của vợ chồng nếu về nguồn gốc nó được tạo lập bởi công sức đóng góp chung của hai vợ chồng. Do đó, 4 lô đất trên tuy chỉ đứng tên một mình người vợ nhưng vẫn được xác nhận là tài sản chung của vợ và chồng trong quá trình hôn nhân.

    Tuy nhiên, theo thông tin anh cung cấp, giữa vợ và chồng đã lập văn bản thỏa thuận xác nhận 4 lô đất này là tài sản riêng của vợ. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân tại Điều 38 như sau:

    Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

    1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

    2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

    3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

    Theo đó, 4 lô đất trên được xác địnhlà tài sản chung của vợ và chồng(dựa vào nguồn gốc hình thành tài sản) nhưng sau đó được phân chia làm tài sản riêng cho vợ thông qua văn bản thỏa thuận mà 2 bên đã ký. Vậy vào thời điểm hiện tại, nếu văn bản thỏa thuận này thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại Điều 117 – Bộ luật Dân sự 2015 thì Tòa án sẽ coi đây là thỏa thuận hợp pháp giữa vợ và chồng, đồng thời coi 4 lô đất này là tài sản riêng của người vợ mà không đưa ra để chia tài sản khi ly hôn:

    Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

    1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

    b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

    c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

    2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

    Như vậy, về việc phân chia tài sản khi ly hôn giữa hai vợ chồng được giải quyết trên cơ sở sự thỏa thuận của mỗi bên, nếu không thỏa thuận được thì chia theo pháp luật dựa trên công sức đóng góp và yếu tố lỗi dẫn đến ly hôn của mỗi bên,… với phần tài sản là 4 lô đất đã thỏa thuận là tài sản riêng của vợ, cần kiểm tra lại tính pháp lý của văn bản này, văn bản thỏa thuận cần được tạo lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện của mỗi bên đồng thời phải được công chứng mới có giá trị pháp lý. Nếu muốn 4 lô đất trên được coi là tài sản chung của vợ chồng và đưa ra chia tài sản khi ly hôn, người chồng phải chứng minh được văn bản thỏa thuận đã ký không đủ điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật.

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

    Trân trọng.
    CV tư vấn: Bùi Thanh Hương - Luật Minh Gia

    Hotline: 1900.6169