Hỏi đáp pháp luật Hình sự

  • Tư vấn về tội cố ý gây thương tích và trách nhiệm hình sự

    • 07/06/2016
    • Trương Quỳnh Trang
    • Quy định của pháp luật về tội cố ý gây thương tích, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.

     

    Câu hỏi:

     

    Vào ngày 15/2/2015 do xích mích nên em và T hẹn nhau ra để giải quyết, vì địa điểm là nhà của T nên e sợ sẽ bị đánh hội đồg nên rủ thêm 2 người bạn là H với B đi theo. Trên đường đi H bảo dừng xe lại đây tao vào siêu thị mua con dao thủ sẵn lỡ có chuyện gì thì sao, e bảo nhiều người hãy đem ra dọa đừng có chém thật, sau đó H vào mua rồi tiếp tục tới chỗ hẹn. Tới thì e và T đánh nhau, đang đánh thì H và B lao vào đánh T trong đó H dùng dao chém T.

     

    Sau đó cả 3 bị bắt, lúc đó em chưa đủ 18 tuổi. Công an tạm giữ bọn e 2 ngày,trong 2 ngày này e đã thành khẩn khai tất cả mọi sự việc, sau đó công an cho về và không nói gì cả. Tới hôm thứ 6 vừa qua là 28/11/2015 công an gọi H lên lấy giấy khởi tố và lệnh cấm rời khỏi địa phương. Thương tật giám định của T lúc mới bị chúng e đánh xong là 17%. Lúc này e đã đủ 18 tuổi vì e sinh ngày 01/07/1997.

     

    Xin luật sư tư vấn về trách nhiễm hình sự của mỗi người bọn e, mức án thấp nhất và cao nhất mà từng người phải chịu, tình tiết giảm nhẹ.

     

    Mong luật sư giúp đỡ, e xin cảm ơn

     

    Trả lời:

     

    Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tư vấn đến công ty Luật Minh Gia. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

     

    Căn cứ theo Điều 104 bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác:

     

    1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

     

    a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

     

    b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

     

    c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

     

    d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

     

    đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

     

    e) Có tổ chức;

     

    g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

     

    h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

     

    i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

     

    k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

     

    2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

     

    Bạn, H và B đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh T và T bị tỉ lệ thương tật là 17 % và có sử dụng hung khí nguy hiểm là dao nên căn cứ theo điêm a khoản 1 và khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 nên bạn sẽ bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

     

    Căn cứ Điều 20 Bộ luật hình sự quy định về đồng phạm như sau:

     

    1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

     

    2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

     

    Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

     

    Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

     

    Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

     

    Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

     

    3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

     

    Bạn và hai người kia thực hiện hành vi đánh T. Bạn là người rủ H và B, trong vụ việc trên thì cả ba người đều tham gia vào đánh T nên ba người có thể được xác định là động phạm trong tội cố ý gây thương tích.

     

    Hành vi rủ H và B đi đánh T thì bạn có thể bị xác định là người xúi giục nếu bạn kích động, dụ dỗ, thúc đẩy H và B đi đánh T với bạn.

     

    Bạn trực tiếp tham gia vào đánh T nên hành vi của bạn trong trường hợp này là người thực hành.

     

    H và B tham gia trực tiếp vào đánh T và H còn có hành vi mua dao và chém T nên  H và B được xác định là người thực hành trong vụ phạm tội trên.

     

    Và nếu như, trước khi đi đến nhà T,  bạn và hai người kia thực hiện bàn bạc, đánh T như nào, hay xác định rõ vai trò nhiệm vụ của từng người thì có thể từ đồng phạm ba bạn sẽ bị chuyển thành phạm tội có tổ chức.

     

    Căn cứ vào mức độ và tính chất của hành vi vai trò của từng người mà bạn và hai người kia phải chịu hình phạt tương ứng.

     

    Căn cứ theo Điều 46 bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

     

    1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

     

    a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

     

    b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

     

    c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

     

    d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;  

     

    đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

     

    e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

     

    g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

     

    h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

     

    i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

     

    k) Phạm tội do lạc hậu;

     

    l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

     

    m) Người phạm tội là người già;

     

    n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

     

    o) Người phạm tội tự thú;

     

    p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

     

    q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

     

    r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

     

    s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

     

    2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

     

    3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

     

    Nếu như, bạn và hai người thực hiện hành vi đánh T có một trong các tình tiết trên thì sẽ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

     

    Căn cứ theo Điều 69 bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

     

    1. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

     

    Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.

     

    2. Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.

     

    3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.

     

    4. Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này.

     

    5. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội. Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng.

     

    Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.

     

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.

     

    6. án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

     

    Bạn, H và B có thể bị xác định là đồng phạm, bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 104 bị phạt tù từ hai năm bảy năm. Trong trường hợp này bạn và hai người kia phạm tội nghiêm trọng, -  tương ứng với khung hình phạt tù tối đai là 7 năm tù và khi thực hiện hành vi phạm tội bạn chưa đủ 18 tuổi nên căn theo khoản 2 Điều 69 bạn có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ và gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát giáo dục.

     

    Trong trường hợp này, nếu bạn được miễn trách nhiệm hình sự  thì Toà án có thể quyết định áp dụng một trong các biện pháp tư pháp có tính giáo dục, phòng ngừa sau đây: a) Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; b) Đưa vào trường giáo dưỡng.

     

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tư vấn về tội cố ý gây thương tích và trách nhiệm hình sự. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

     

    Trân trọng!

    Cv: Vũ Nga – Luật Minh Gia.

    Hotline: 1900.6169