Mai Hồng

Đồng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Chào luật sư ! Em có câu hỏi nhờ luật sư tư vấn như sau :Anh em quen một người bạn tên S được khoảng 3 tháng, một hôm anh này nói với anh em là đã lỡ cầm chiếc xe anh P (bạn của anh S) để tiêu xài.

Nay anh S gọi anh P đem 3 triệu đồng để chuộc xe. Lúc này anh S nhờ anh em đi lấy tiền 3 triệu dùm và anh S bảo anh em sau khi lấy tiền thì tìm cách bỏ anh P ở đâu đó và về đưa tiền cho anh S.Trong lúc chở anh P đi lấy xe, anh em đã lấy được 3 triệu bỏ vào túi và lúc này anh S nhắn tin để chỉ đạo đường đi và phải đưa anh P đến chỗ vắng rồi tìm cách bỏ anh P lại mà không chở đi chuộc xe. Sau đó công an đến bắt anh em trong lúc chở anh P vì anh này đã báo công an từ trước. Khi bắt được anh em , khi bị bắt anh em thành thật khai báo và đã phối hợp cùng công an bắt được anh Sang. 9 tháng sau, Công an khởi tố anh em về tội đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Lúc này anh P đã nhận lại được tiền và xe của anh luôn. Em xin hỏi luật sư tội của anh em hình phạt như thế nào? Có bị ghép vào hình phạt theo phạm tội có tổ chức không? Và có được hưởng án treo không? Vì anh em phạm tội lần đầu, không tiến án, gia đình cũng trong sạch, có việc làm mua bán và ăn năn hối cải.

 

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

 

Anh bạn bị công an khởi tố về tội đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

 

" Điều 17. Đồng phạm

 

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

 

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện

tội phạm.

 

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

 

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

 

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

 

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

 

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

 

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành...”

 

Theo quy định của pháp luật, đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự về toàn bộ tội phạm là tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố xét xử theo cùng một tội danh, cùng một điều luật và trong phạm vi chế tài của điều luật ấy. Anh bạn sẽ bị truy tố theo tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 17 Bộ luật này với vai trò đồng phạm. Tại Điều 58 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định về việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm như sau:


 
Điều 58. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

 

Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

 

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó...


Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51 Bộ luật này quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì anh bạn đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm; chưa gây ra thiệt hại lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;… là một trong các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.


  
Như vậy, tùy vào tính chất cũng như mức độ hành vi, mức độ tham gia phạm tội, tính chất đồng phạm cũng như tình tiết giảm nhẹ thì anh bạn sẽ được Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt và đưa ra hình phạt thích đáng nhất.

 

Phạm tội có tổ chức khi có sự câu kết chặt chẽ giữa anh bạn và anh Sang khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong đó có tồn tại sự phân công vai trò, có kế hoạch phạm tội chi tiết, rõ ràng và mỗi người đảm nhiệm một phần nhất định và chịu trách nhiệm đối với phần việc của mình. Mà anh bạn thực hiện hành vi theo sự chỉ đạo của anh Sang là việc thực hiện tội phạm với vai trò của người giúp sức.

 

Tại Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 có quy định về án treo:

 

Điều 65. Án treo

 

1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự...”

 

Điều kiện được hưởng án treo được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP

 

Điều 2. Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo

 

Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

 

1. Bị xử phạt tù không quá 03 năm.

 

2. Có nhân thân tốt.

 

Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

 

Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

 

3. Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

 

Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

 

4. Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

 

Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.

 

Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

 

5. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội...”

 

Do đó, nếu anh bạn bị xử phạt tù không quá 3 năm, nhân thân tốt và có các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên thì anh bạn có thể được cho hưởng án treo.

 

Trân trọng!

Cv. Bùi Thảo – Công ty Luật Minh Gia.

Gọi ngay