Hỏi đáp pháp luật Hình sự

  • Cố ý gây thương tích hay phòng vệ chính đáng?

    • 11/03/2019
    • Ls Vũ Đức Thịnh
    • Luật sư tư vấn miễn phí trường hợp người chưa thành niên phạm tội cố ý gây thương tích thì hình phạt áp dụng thế nào?


    Nội dung đề nghị tư vấn:

    Chào luật sư, em có một đứa cháu bị 1 nhóm thanh niên đánh nhiều lần và 1 ngày cháu đi học đã mang theo dao đi và cuối buổi tan học cháu và 2 bạn của cháu tan học về và vào quán nước ngồi uồng nước thì bị 1 nhóm thanh niên xuống xe vào quán nước để đánh cháu và cháu đã chống cự lại là dùng dao đâm thanh niên đến đánh cháu.
    Cho em hỏi cháu chưa đến tuổi vị thành niên mà đâm người bị thương tích như vậy thì trong luật hình sự thì bị xử lý như thế nào? Xin cảm ơn !
     

    Cố ý gây thương tích hay phòng vệ chính đáng?
    Cố ý gây thương tích hay phòng vệ chính đáng? (Ảnh minh họa)
     

    Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

    Thứ nhất, việc xác định hình phạt áp dụng

    Với thông tin bạn cung cấp như vậy chúng tôi chưa đủ căn cứ để tư vấn cụ thể cho bạn được. Vì trường hợp này, cháu bạn đã mang theo dao nhưng phải xác định rõ mục đích nhằm phòng vệ hay trả thù nhóm thanh niên đã đánh mình?

    Tuy nhiên, việc người cháu dùng dao để gây thương tích cho người khác thì có thể sẽ không thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng theo quy định của pháp luật hình sự. Căn cứ theo quy định tại Điều 22 về  Phòng vệ chính đáng của Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

    1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

    Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

    2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

    Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.

    Căn cứ theo quy định tại Điều 136 về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

    1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

    a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

    3. Phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

    Khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra, trường hợp không phải do phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì người cháu của bạn sẽ được áp dụng hình phạt theo quy định tại Điều 134 về Tội cố ý gây thương tích và tổn hại sức khỏe cho người khác như sau:

    1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

    b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

    c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

    d) Phạm tội 02 lần trở lên;

    đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

    e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

    g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

    h) Có tổ chức;

    i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

    k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

    l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

    m) Có tính chất côn đồ;

    n) Tái phạm nguy hiểm;

    o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

    6. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

    a) Làm chết 02 người trở lên;

    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

    c) Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

    7. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

    Thứ hai, về việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

    Căn cứ theo quy định tại Điều 12 về Tuổi chịu trách nhiệm hình sự của Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

    1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

    2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

    Căn cứ theo quy định tại Điều 101 về Tù có thời hạn của Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

    Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:

    1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

    2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.

    Do thông tin bạn cung cấp chưa rõ ràng vì vậy bạn có thể tham khảo thêm các quy định trên và một số quy định có liên quan tại Bộ luật hình sự năm 2015 để biết thêm chi tiết.

    Trân trọng!

    Phòng luật sư tư vấn - Công ty Luật Minh Gia

    Hotline: 1900.6169