Hoàng Tuấn Anh

Tư vấn về việc bị quy kết lấy trộm đồ mà không có bằng chứng

Luật sư tư vấn về phương hướng giải quyết đối với việc một người bị quy kết hành vi lấy trộm đồ mà không có bằng chứng chứng minh, cụ thể như sau:

 

Câu hỏi tư vấn: Em làm nhân viên kĩ thuật của một công ty lớn khi đi bảo trì tại nhà khách hàng vào buổi chiều thì khách hàng nói em lấy chộm đồ nhà họ, trong khi đó em không làm gì cả. Khi ra khỏi nhà họ thì họ báo mất đồ và nói em đã lấy.họ còn báo lên cty của em là em lấy đồ nhà họ trong khi không có một chứng cứ gì khẳng định em làm chuyện đó cả, làm ảnh hưởng đến danh dự cá nhân em. Mong anh chị tư vấn giúp em phải làm gì để giải quyết vụ việc này ạ.

 

Tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng lựa chọn tư vấn bởi Công ty Luật Minh Gia, chúng tôi xin tư vấn cho trường hợp của bạn như sau:

 

Bộ luật Hình sự 2015 có quy định về Tội trộm cắp tài sản tại Điều 173 như sau:

 

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1.92 Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

 

Hiện tại bạn đang bị nghi ngờ trong một vụ án hình sự với hành vi trộm cắp tài sản. Để bảo vệ quyền lợi của mình bạn cần hợp tác với cơ quan điều tra, cung cấp những thông tin mà mình biết về sự việc để cơ quan điều tra nhanh chóng giải quyết vụ án, loại bỏ nghi ngờ của những người kia đối với bạn.

 

Từ thông tin bạn cung cấp, có thể thấy hành vi của người này đã xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được quy định tại Điều 34 – Bộ luật dân sự 2015 như sau:

 

Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

 

Cụ thể, những người này đã báo với công ty nơi bạn đang làm việc bạn có hành vi trộm cắp tài sản mặc dù không có căn cứ chứng minh sự việc này.

 

Nghị định 167/2013/NĐ-CP có quy định về vấn đề xử phạt với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác tại Điểm a, Khoản 1, Điều 5 như sau:

 

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

 

Như vậy, với những hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác thể hiện cụ thể bằng lời nói, cử chỉ mà chưa đến mức độ bị xử lý hình sự thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Bạn có thể gửi đơn trình báo đến cơ quan công an tại địa phương để được can thiệp giải quyết, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình.

 

Đồng thời, khi có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bạn, những đối tượng đó còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của bạn. Bộ luật dân sự 2015 có quy định về vấn đề này như sau:

 

“Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

 

Dựa theo quy định trên, anh có thể yêu cầu những đối tượng đã có hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm của mình phải bồi thường một khoản tiền hợp lý, đồng thời yêu cầu những người này xin lỗi công khai. 

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tư vấn về việc bị quy kết lấy trộm đồ mà không có bằng chứng. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ luật sư tư vấn trực tuyến - Số 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng.

CV Hằng Nga - Công ty Luật Minh Gia

TƯ VẤN NHANH