LS Hồng Nhung

Tư vấn về thừa kế trong trường hợp cha có hai người vợ.

Trong trường hợp có hai người vợ thì công nhận quan hệ hôn nhân như thế nào? Các con mà hai người vợ sinh ra có được hưởng thừa kế từ người cha không? Luật Minh Gia tư vấn như sau:

Nội dung tư vấn: Làm ơn tư vấn giúp mình cách giải quyết sao cho hợp lý với ạ. Chuyện gia đình mình là như thế này: Bố Mình lấy Mẹ mình từ năm 1962 thời ấy không có giấy tờ kết hôn, Bố mình có với nhau 5 anh em 3 gái và 2 trai. Bố mình làm việc và sống ở nơi khác là chính chỉ thỉnh thoảng về quê với Mẹ và 5 anh em mình, Bố mình đã cặp với 1 người phụ nữ kém tuổi chị thứ 3 trong nhà tới 2 tuổi vào năm 1996 và sinh với nhau được 3 đứa con gái và Bố mình đã âm thầm đút lót những người xác nhận giấy độc thân đăng ký kêt hôn với cô Bồ kia nhưng giấu không cho ai biết. Năm ngoái Bố mình không may đột tử qua đời không để lại di chúc; tài sản của Bố mình gồm có 1 căn hộ chung cư được cơ quan nhà nước cấp, hiện bà bồ và 3 đứa trẻ con 2 đứa trên 18 tuổi và 1 đứa được 16 tuổi đang sử dụng và có 1 mảnh đất ở quê, sổ đỏ đứng tên Bố mình. Từ khi Bố mình chết bà bồ kia đã làm sổ đỏ căn hộ được nhà nước phân cho Bố mình sang tên bà ấy và bà ấy giữ sổ đỏ mảnh đất ở quê giờ có ý định chiếm đoạt nốt. Mẹ mình cùng Chú ruột và 5 anh chị em ra xin lại sổ đỏ đất ở quê nhưng bà kia và lũ trẻ không chịu trả nên Mẹ mình đã ra xã trình báo mất sổ đỏ và xin giấy chứng nhận của bên công An xã xác nhận Bố là chồng hợp pháp của Mẹ và muốn nhờ bên địa chính sang tên sổ đỏ đất ở quê cho Me nhưng xã đã không làm vì lý do 3 con nhỏ con bà bồ Bố mình đưa đơn về nói sổ đỏ chúng nó giữ.

Và xã cũng đã gọi về để hoà giải nhưng 4 mẹ con kia không về giờ Gia Đình mình muốn nhờ luật sư kiện giúp làm theo đúng luật thừa kế khi Bố mình mất không để lại di chúc gì.

Xin bạn tư vấn giúp mình là nếu gia đình mình mẹ và 5 anh em mình đưa ra tòa nhờ toà án giải quyết theo luật thừa kế của căn hộ Chung cư trước nhà nước phân giờ đứng tên bà bồ Bố mình ấy và miếng đất ở quê chia đều thì có được không ạ?

Mong văn phòng luật của bạn tư vấn giúp trong trường hợp như gia đình mình thì làm thế nào cho hợp lý ạ?

 

Trả lời tư vấn: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Thứ nhất, xác định quan hệ hôn nhân trong trường hợp không có đăng ký kết hôn:

 

Căn cứ thông tin bạn cung cấp, bố mẹ bạn tổ chức lễ cưới vào năm 1962 nhưng không có đăng ký kết hôn. Do đó, nếu từ thời điểm 1962 đến khi bố bạn mất mà bố mẹ bạn vẫn chung sống với nhau thì quan hệ hôn nhân của bố mẹ bạn được pháp luật thừa nhận theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch Số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định:

 

““Người đang có vợ hoặc có chồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:

 

a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

 

b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết”

 

Tuy nhiên, thông tin bạn đưa ra thể hiện bố mẹ bạn không chung sống từ 1962 đến nay, nên quan hệ vợ chồng của bố mẹ bạn không được pháp luật thừa nhận theo quy định nêu trên. Mặt khác, thời điểm năm 1996 bố bạn đã đăng ký kết hôn với người khác theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân của bố bạn với người này được pháp luật ghi nhận theo điểm a Khoản 4 quy định nêu trên.

 

Thứ hai, vấn đề phân chia di sản thừa kế sau khi bố anh mất:

 

Trong trường hợp này bố bạn mất không để lại di chúc nên sẽ phát sinh vấn đề thừa kế theo pháp luật theo điểm a Khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015:

 

“Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

 

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

 

a) Không có di chúc;

...”

Theo đó, di sản thừa kế bố bạn để lại sẽ được chia đều cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố bạn theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015:

 

“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

 

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

 

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

...

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

...”

Mà di sản thừa kế theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Vậy, đối chiếu với trường hợp của bạn, cần xem xét mảnh đất ở quê và căn nhà chung cư bố bạn được cấp là tài sản riêng hay tài sản chung của bố bạn với người khác. Trường hợp đây là tài sản chung của bố bạn với người khác thì cần phải xác định rõ phần tài sản thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu hợp pháp của bố bạn trong khối tài sản chung để phân chia di sản thừa kế. Nếu các bên không thể xác định được phần tài sản của bố bạn thì có thể khởi kiện ra Tòa án yêu cầu xác định di sản; đồng thời tiến hành phân chia di sản thừa kế theo pháp luật.

 

Như vậy, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố bạn sẽ bao gồm: ông bà nội (nếu ông bà còn sống), người vợ hợp pháp và 7 người con. Những người thừa kế có thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế; trường hợp không thể thỏa thuận được thì có thể khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu phân chia. Theo đó, căn cứ theo các quy định nêu trên, có thể thấy mẹ bạn không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố bạn theo quy định của pháp luật. Nếu trong quá trình chung sống, mẹ bạn có đóng góp công sức để hình thành nên tài sản hoặc để cải tạo, nâng cấp tài sản thì mẹ bạn sẽ được thanh toán chi phí tương ứng với công sức đóng góp.

 

Trong trường hợp chưa tiến hành phân chia di sản thừa kế mà người vợ hợp pháp của bố bạn tiến hành thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở thì giấy chứng nhận đó có thể bị thu hồi do cấp không đúng đối tượng sử dụng đất theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai 2013:

“Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

...

2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

...

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

...”

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp.

Hotline: 1900 6169