Lại Thị Nhật Lệ

Tư vấn về quyền định đoạt tài sản riêng của vợ hoặc chồng.

Chị tôi sinh năm 1969, lập gia đình vào năm 1993 và có 1 con trai. Đến năm 2007 thì ly dị (có quyết định thuận tình ly hôn của Tòa án) và đến năm 2012 thì kết hôn với với 1 người Việt sống tại Úc. Vào năm 2011 (trước khi kết hôn) Chị tôi có mua được 1 căn nhà bằng tiền riêng của chị tôi, một mình chị tôi đứng tên trong GCN quyền sử dụng nhà đất của căn nhà này.

 

Quý Luật sư vui lòng cho tôi hỏi:

1. Căn nhà nói trên được xem là tài sản riêng của chị tôi hay là tài sản chung của chị tôi và người chồng sau?

2. Trong trường hợp được công nhận là tài sản riêng, Chị tôi có quyền đơn phương bán, cho, tặng căn nhà nói trên không?

3. Trường hợp chị tôi qua đời trong khi vẩn còn đứng tên sở hữu căn nhà nói trên thì những ai sẻ được hưởng thừa kế căn nhà đó? Chồng sau của chị tôi có được hưởng thừa kế căn nhà trên không? Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Quí Luật sư!

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tư vấn đến công ty Luật Minh Gia. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

 

 

 

1. Căn nhà nói trên được xem là tài sản riêng của chị tôi hay là tài sản chung của chị tôi và người chồng sau? Trong trường hợp được công nhận là tài sản riêng, Chị tôi có quyền đơn phương bán, cho, tặng căn nhà nói trên không?


Căn cứ theo Điều 43 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

 

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

 

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

 

Và căn cứ theo Điều 44 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng như sau:

 

 1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

 

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

 

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
 

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.

 

Như vậy, căn nhà chị bạn mua năm 2011, một mình chị bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được hình thành trước thời kì hôn nhân giữa chị bạn và người chồng sau nên nó được xác định là tài sản riêng của chị bạn.

 

Nếu căn nhà trên được xác định là tài sản riêng của chị bạn thì chị bạn có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt: tặng cho, mua bán, chuyển nhượng …  mà không cần có sự đồng ý của người chồng.

 

Căn nhà trên chỉ được xác định là tài sản chung của hai vợ chồng nếu chị bạn thực hiện nhập căn nhà trên vào khối tài sản chung. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

 

2. Trường hợp chị tôi qua đời trong khi vẩn còn đứng tên sở hữu căn nhà nói trên thì những ai sẻ được hưởng thừa kế căn nhà đó? Chồng sau của chị tôi có được hưởng thừa kế căn nhà trên không? 

 

Trường hợp thứ nhất: Chị bạn chết có để lại di chúc
 

Căn cứ theo Điều 613 Bộ luật dân sự 2015 quy định về người thừa kế như sau:

 

Điều 613. Người thừa kế

 

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

 

Do đó, người được quyền hưởng thừa kế căn nhà trên là người được chỉ định trong di chúc nếu là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

 

Căn cứ theo Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau:

 

“Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

 

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

 

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

 

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

 

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”.

 

Như vậy, những người trong quy định trên sẽ được hưởng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật trừ khi họ từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản.

 

Trường hợp thứ hai: Chị bạn chết không để lại di chúc hoặc thuộc các trường hợp chia di sản thừa kế theo pháp luật

 

Căn cứ theo Điều 650 Bộ luật dân sự 2015 quy định về những trường hợp thừa kế theo pháp luật như sau:

 

“Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

 

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

 

a) Không có di chúc;

 

b) Di chúc không hợp pháp;

 

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

 

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”.

 

Như vậy, di sản thừa kế của chị bạn bao gồm cả căn nhà trên sẽ được chia theo pháp luật trong các trường hợp trên.


Căn cứ theo Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:

 

“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

 

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

 

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

 

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

 

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

 

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

 

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”.

 

Như vậy, những người ở hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của chị gái bạn, người chồng sau (đang tồn tại mối quan hệ hôn nhân hợp pháp) và các con của chị gái bạn. Mỗi người sẽ hưởng một phần di sản thừa kế bằng nhau. 

 

Do đó, nếu khi chị bạn mất, vẫn đang có mối quan hệ hôn nhân hợp pháp với người chồng sau thì người này vẫn sẽ được hưởng di sản thừa kế do chị bạn để lại: Một suất của di sản thừa kế theo pháp luật (nếu chị bạn mất không để lại di chúc) và 2/3 một suất của di sản thừa kế theo pháp luật (nếu chị bạn mất để lại di chúc nhưng không cho người này hưởng hoặc hưởng ít hơn 2/3 một suất). 

 

Người chồng sau của chị gái bạn sẽ không được hưởng di sản thừa kế nếu hai vợ chồng chị gái bạn ly hôn trước khi chị gái bạn mất. 

 

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tư vấn về quyền định đoạt tài sản riêng của vợ hoặc chồng.. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng
CV: Vũ Nga – Công ty Luật Minh Gia.

Hotline: 1900 6169