Lại Thị Nhật Lệ

Tư vấn đề xác định dân tộc và họ của con để làm giấy khai sinh.

Tôi là dân tộc Mường, vợ tôi dân tộc Kinh. Vợ tôi mới sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Khi làm giấy chứng sinh thì bên hành chính có ghi dân tộc của con tôi là Kinh (theo dân tộc Mẹ). Tôi có hỏi thì nhận được giải thích là như vậy là đúng. Vậy xin quý công ty tư vấn giúp tôi là như vậy có đúng không ạ. (Vì theo tôi nghĩ là con phải theo họ và dân tộc cha).

 

Và nếu như vậy khi đi làm giấy khai sinh có gặp khó khăn gì không ạ vì phải nộp giấy chứng sinh. Xin quý công ty tư vấn giúp và trả lời cụ thể.Xin chân thành cảm ơn! Xin nói thêm vì sao tôi cần làm rõ vấn đề này và thật cụ thể vì đã có dẫn chứng ạ ( chính trong gia đình tôi). Như sau: bố tôi dân tộc Mường, mẹ Kinh nên tôi dân tộc theo cha là Mường. Nhưng đến khi sinh em gái tôi, người làm giấy khai sinh ghi dân tộc em gái tôi là Kinh. Và như vậy khi đi học thì có nói em gái tôi bị sai giấy khai sinh và phải sửa đổi lại là dân tộc Mường. Đó là trường hợp cụ thể, do vậy tôi cần xin tư vấn để làm khai sinh cho cháu đỡ gặp rắc rối về sau. Chân thành cảm ơn quý công ty một lần nữa! Mong nhận được trả lời sớm nhất ạ.

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tư vấn đến công ty Luật Minh Gia. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

 


Căn cứ theo Điều 26 bộ luật dân sự 2015 quy định về quyền có họ, tên:

 

“1. Cá nhân có quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có). Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó.

2. Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của người đó.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng.

Cha đẻ, mẹ đẻ được quy định trong Bộ luật này là cha, mẹ được xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việc mang thai hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.
Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ.

4. Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình.

5. Việc sử dụng bí danh, bút danh không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.”

 

Và theo Điều 29 bộ luật dân sự 2015 quy định về quyền xác định, xác định lại dân tộc:

 

“1. Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình.
 

2. Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn…”

 

Như vậy, họ và dân tộc của cá nhân được xác định là họ, dân tộc của cha đẻ hoặc họ, dân tộc  của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp không có thỏa thuận thì họ và dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.

 

Do đó, việc bệnh viện làm giấy chứng sinh cho con bạn theo dân tộc của người mẹ là không trái với quy định của pháp luật. Khi bạn đi làm thủ tục khai sinh cho con thì bạn có thể làm văn bản thỏa thuận với vợ về việc con theo dân tộc và họ cha. Bên cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ căn cứ vào văn bản thỏa thuận của cha mẹ đẻ  để xác định dân tộc và họ cho con.Trong trường hợp đã làm giấy chứng sinh, giấy khai sinh cho con theo họ và dân tộc của mẹ thì có thể làm thủ tục thay đổi, xác định lại dân tộc và họ theo cha đẻ.

 

Căn cứ theo Điều 16 luạt hộ tịch 2014 quy định về thủ tục đăng ký khai sinh:

 

“1. Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật.

2. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này vào Sổ hộ tịch; cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định danh cá nhân.
Công chức tư pháp - hộ tịch và người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh.

3. Chính phủ quy định chi tiết việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ, trẻ em sinh ra do mang thai hộ; việc xác định quê quán của trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ.”

 

Khi làm thủ tục khai sinh cho con bạn cần chuẩn bị những giấy tờ và thực hiện theo trình tự như trên.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về vấn đề bạn quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến Tổng đài luật sư tư vấn luật trực tuyến - 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời

 

Trân trọng!
Cv: Vũ Nga – Luật Minh Gia.

Hotline: 1900 6169