LS Phùng Gái

Trách nhiệm hoàn trả khi hết thời hạn của hợp đồng vay tài sản?

Câu hỏi tư vấn: Vào ngày 15/06/2016 gia đình phía hàng xóm của tôi có qua nhà nhờ tôi giúp đỡ 1 khoản tiền 50 triệu vnd để họ có thể mua vật liệu để hoàn thành thi công công trình sân bay pleiku gialai, do tin tưởng và chỗ hàng xóm với nhau nên tôi và vợ đã đồng ý cho phía gia đính hàng xóm mượn số tiền 50tr như trên.

 

Trong quá trình cho mượn tiền tôi có dùng "mẫu" ( giấy vay tiền ) để thực hiện việc cho gia đình xóm mượn 50triệu, trong mẫu giấy cho vay mượn tiền tôi có ghi rõ họ tên số CMND và địa chỉ cư trú của người cho vay mượn và người mượn rõ ràng, trong giấy vay mượn bên vay có ghi rõ là trong vòng 1 tháng sẽ hoàn trả số tiền trên (50tr) cho vợ chồng tôi , và chúng tôi đã thống nhất phương án mượn tiền trên, 2 bên đã có ký nhận rõ ràng. Nhưng sau hơn 1 tháng tôi và vợ quay sang nhà hàng xóm để lấy tiền thì họ đã trốn tránh và chuyển đi chổ khác để ở, hiện tại phía bà con của họ trong xóm tôi vẫn còn nhưng không biết gia đình đó đã đi đâu.

 

Qua vụ việc trên tôi muốn hỏi có thể tư vấn cho tôi cách viết đơn và cách khởi kiện gia đình đó nhưng thế nào và cấp thẩm quyền nào sẽ tiếp nhận đơn tố cáo này. Số tiền mà vợ chồng tôi cho mượn như trên có thể nhờ pháp luật đòi lại được không ?. Xin cảm ơn quý công ty nhiều ạ.

 

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới công ty Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về xác định hợp đồng vay tài sản. Cụ thể:

 

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

 

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

 

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

 

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

 

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

 

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

 

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

 

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

 

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

 

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 

Như vậy, đối chiếu với trường hợp của gia đình thì có lập hợp đồng vay với số tiền 50 triệu cho gia đình hàng xóm, thời hạn trả là một tháng kể từ thời điểm hợp đồng vay được xác lập nên khi hết thời gian trên bên vay phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

 

Tuy nhiên, hết thời hạn bên vay không trả và còn có hành vi lẩn chốn và chuyển nơi khác dẫn tới việc gia đình không thể liên lạc được nhằm chiếm đoạt luôn số tiền 50 triệu đó - tức có dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên để đảm bảo quyền lợi thì gia đình bạn có quyền làm đơn tố cáo tới cơ quan công an huyện nơi bị đơn cư trú về hành vi lạmdụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nếu có đủ hành vi cấu thàh tội danh tại Điều 175 – Bộ luật Hình sự 2015:

 

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

 

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

 

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

 

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

 

Theo đó, khi làm đơn tố cáo thì cơ quan điều tra sẽ xác minh hành vi trên để truy cứu trách nhiệm và buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho gia đình (gia đình vẫn được quyền đòi lại).

 

Mẫu đơn tố cáo thì bạn có thể tham khảo tại đây: /hoi-dap-hinh-su/mau-don-to-cao-lua-dao.aspx

 

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Trách nhiệm hoàn trả khi hết thời hạn của hợp đồng vay tài sản?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng

CV P.Gái - Công ty Luật Minh Gia

Hotline: 1900 6169