Nguyễn Văn Thành Tâm

Quy định về hợp đồng thuê khoán và hợp đồng vay tài sản

Trong giao dịch dân sự, giao dịch về cầm cố, thế chấp tài sản và vay mượn tài sản là các giao dịch dân sự khá phổ biến trong cuộc sống, chính vì vậy có nhiều vấn đề pháp lý xảy ra với hai loại giao dịch này. Để làm rõ cũng như cho mọi người hiểu hơn về hai giao dịch này chúng tôi xin phép giải quyết một tình huống cụ thể để bạn đọc có thể áp dụng vào tình huống của mình.

Câu hỏi cần tư vấn:

Xin chào luật sư. Như tiêu đề tôi có đề cập thì tôi có 2 vấn đề rất mong luật sư tư vấn và giải đáp giúp tôi vì tôi đang rất bế tắc.

Thứ nhất, chồng tôi có lấy xe máy và đăng ký xe mang tên của tôi đi cầm đồ để lấy 20 triệu đồng. Bố chồng tôi thì bắt tôi viết đơn báo lên công xã để thông báo là tôi bị mất xe để họ xử lý bọn cầm đồ. Xin hỏi luật sư việc làm như vậy có được không?

Thứ hai, chồng tôi có vay nặng lãi một khoản tiền với số lãi là 3000/1 triệu/1 ngày thì đối tượng cho vay nếu mình kiện ra pháp luật thì có lợi về phía mình không. Rất mong luật sư tư vấn giúp tôi thật nhanh tôi xin cảm ơn!

Nội dung tư vấn: Cảm ơn chị đã tin tưởng và gửi câu hỏi cần tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia, với trường hợp đang vướng mắc Luật Minh Gia tư vấn như sau:

*Vấn đề chồng sử dụng xe của vợ để đi cầm cố:

Tại Điều 309 Bộ Luật dân sự 2015 có quy định 

"Điều 309. Cầm cố tài sản

Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ."

Như vậy theo quy định của pháp luật thì chỉ có người có quyền sở hữu hợp pháp với tài sản của mình mới được quyền đi cầm cố cho người khác. Trường hợp này chồng chị đã tự ý mang xe của chị đứng tên hợp pháp đi cầm cố thì đã vi phạm nguyên tắc của điều luật này nên giao dịch cầm cố này là trái pháp luật và được xem vô hiệu. Điều 131 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Hậy quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

"1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định".

Như vậy trong trường hợp này nếu chồng chị tự ý cầm cố xe của chị mà không được sự đồng ý của chị thì theo nguyên tắc bên chủ tiệm cầm đồ sẽ không được nhận cầm cố tài sản này. Vì vậy giao dịch giữa chồng chị và bên cầm đồ sẽ là giao dịch vô hiệu và bên cầm đồ sẽ phải trả lại xe cho chị. Nếu chồng chị và bên cầm đồ không hợp tác để trả lại xe cho chị thì chị có quyền làm đơn trình báo cho cơ quan công an để họ giải quyết. Trường hợp chiếc xe của chị là tài sản riêng của chị trong thời kì hôn nhân thì khi chồng chị tự ý lấy xe của chị đi cầm đồ mà không báo trước hay thỏa thuận trước với chị thì có dấu hiệu của việc chiếm đoạt tài sản.

Trường hợp chị tố cáo ra cơ quan công an thì về phía hiệu cầm đồ, trách nhiệm của họ chỉ là trách nhiệm dân sự, có phải trả lại xe hay không, tuy nhiên, chồng chị có thể chịu trách nhiệm hình sự liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản của mình.

*Lãi suất bao nhiêu thì phạm tội cho vay nặng lãi?

Tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về lãi suất vay như sau:

"1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác…

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

Như vậy, trường hợp của chồng chị, lãi suất do các bên thỏa thuận và không được vượt quá: 20%/ năm của khoản tiền vay. Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 20% : 12 tháng = 1,667%/tháng

Trường hợp của chồng chị vay với lãi suất 3 nghìn đồng/1 triệu/một ngày tính ra sẽ là 90 nghìn đồng/1 triệu/1 tháng vậy lãi suất sẽ là 9%/1 tháng. Mức lãi suất đã vượt quá lãi suất tối đa mà pháp luật cho phép các bên thỏa thuận.

Thêm vào đó tại điều 201 bộ luật hình sự 2015 có quy định về tội cho vay nặng lãi:

"Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm".

Như vậy mức lãi suất hiện tại chồng chị vay là 108%/1 năm gấp hơn 5 lần mức lãi suất mà nhà nước quy định trong luật dân sự đây sẽ là một căn cứ để chứng minh cho hành vi cho vay nặng lãi của bên cho vay. Tuy nhiên do chị không cung cấp về số tiền chồng chị vay cũng như thời gian vay nên chúng tôi không thể xác định được mức thu lợi bất chính trong trường hợp này. Nếu chị có căn cứ rằng bên cho vay đã thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên cùng với mức lãi suất 108%/1 năm thì chị có thể làm đơn tố cáo hành vi này với cơ quan công an.

Trường hợp số tiền thu lợi bất chính của bên cho vay chưa vượt quá 30 triệu đồng thì hành vi của bên cho vay chưa đủ căn cứ để truy cứu TNHS, tuy nhiên phần lãi suất vượt quá 20%/năm sẽ không được pháp luật bảo vệ, tức chị chỉ phải trả với mức lãi suất tối đa là 20%/năm.

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Tư vấn miễn phí