Tuấn Luật sư

Kiện vay tiền không trả như thế nào?

Kính gửi Công ty Luật Minh Gia, Em tên là Ng, Hiện tại gia đình em đang lâm vào hoàn cảnh bế tắc, mong công ty tư vấn giùm để gia đình em có thể lấy lại được số tiền đã cho vay, và kiện người vay tiền không trả như sau:

Vào tháng 9/20xx, em đã cho bạn thân của em mượn 1 số tiền là 100 triệu. Lúc đó số tiền này mẹ em đã đứng ra vay dùm cho bạn em, với lãi suất là 4%. Trước đó cũng vì tin tưởng, em đã nhờ mẹ cho bạn mượn 2 3 lần, mỗi lần tầm khoảng 20 triệu, còn riêng em là 10 triệu (không lấy lãi). Tất cả những lần cho mượn này đều không có giấy tờ làm chứng, vì trước đó người này mượn lần nào cũng trả đủ. Người này hiện đang ở Úc, lâu lâu mới về VN.

Thời gian mượn chỉ có 3 tháng, nhưng đến thời điểm này thì người đó chỉ trả 2 tháng tiền lãi là tháng 10 & tháng 11/20xx, tổng cộng 8 triệu. 

Bây giờ nó lật lọng, nói là đã trả cho em tổng cộng 7000 AUD vào tháng 12/20xx, nhưng em hoàn toàn không nhận được số tiền trên. Nhà em yêu cầu đưa ra những chứng từ cần thiết chứng tỏ em đã nhận được 7000 AUD, nhưng nó nói là gửi qua công ty chuyển phát ở Úc, lâu rồi người ta không còn giữ giấy tờ nữa. Nhà em đều biết nó đang dựng chuyện để nói, và có ý định muốn giựt nợ.

Theo em biết nó vẫn chưa nhập quốc tịch ở Úc, hiện tại vẫn là công dân VN. Tội của nó có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được không ạ? Em có tất cả tin nhắn, và những đoạn chat giữa em và nó suốt năm 2013, về việc nó xin phép em gia hạn cho nó thời gian trả tiền, về việc nó xin khất nợ. Bây giờ em cần ghi âm lại chuyện nó xác nhận đã mượn tiền của em là được rồi đúng không ạ? Em còn cần thêm nhân chứng nữa không vì em có mấy người bạn cũng bị nó lừa đảo nhưng số tiền nhỏ thôi (khoảng 5 triệu), những người đó có thể làm chứng. 

Em cần làm thủ tục gì để thưa nó về tội lừa đảo, và nếu thật sự xảy ra kiện tụng thì sẽ kéo dài bao lâu và phần trăm thắng là bao nhiêu ạ?

Chân thành cám ơn phòng Luật Minh Gia.

TRẢ LỜI: Vấn đề của bạn chúng tôi xin giải đáp như sau:

- Về, hành vi vay tiền không trả có cấu thành tội phạm không?

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Bộ luật hình sự như sau:

"Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

..."

>> Tư vấn quy định về kiện đòi nợ, gọi: 1900.6169

Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội đưa ra các thông tin sai lệch nhằm mục đích để người khác tin đó là sự thật và giao tài sản ra. Như vậy đối với trường hợp của bạn thì chính bạn là người tự nguyện cho bạn mình mượn tiền, đồng thời việc vay mượn tiền này có tính lãi, điều đó cho thấy giữa hai người đã có sự thỏa thuận để nhằm đạt được mục đích của mình.

Do vậy hành vi không trả tiền đúng hạn của người vay không được coi là lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên nếu cố ý không muốn trả số tiền đã vay thì người đi vay có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

 a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Tuy nhiên hình thức hợp đồng cho vay tài sản giữa hai bạn là bằng miệng, do vậy bạn cần cung cấp chứng cứ giao dịch cũng như tin nhắn qua lại giữa hai người để làm chứng cứ chứng minh rằng giữa hai bạn có tồn tại hợp đồng cho vay tài sản.

Và để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn có thể đến cơ quan có thẩm quyền để tố giác thông tin về tội phạm. Nếu có hành vi vi phạm thì cơ quan điều tra sẽ khởi tố vụ án để tiến hành điều tra.

Gọi ngay