LS Nguyễn Mạnh Tuấn

Vay tiền đến hạn không trả có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Quan hệ vay mượn tài sản đã tồn tại từ lâu trong đời sống xã hội nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của con người. Hiện nay, khi có nhu cầu vay tiền thì chúng ta có thể lựa chọn hình thức vay tại các tổ chức tín dụng hoặc vay từ người thân, gia đình, bạn bè. Trên thực tế, có nhiều trường hợp do có mối quan hệ thân thiết mà chúng ta sẵn sàng cho người khác vay một số tiền lớn, nhưng đến khi hết thời hạn vay thì họ lại trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Vậy vay tiền mà đến hạn không trả thì có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Pháp luật quy định như nào?

1. Tư vấn quy định pháp luật về việc vay tiền đến hạn không trả

Theo quy định pháp luật, khi hết thời hạn vay tiền mà người vay vẫn chưa trả, trả chưa đủ hoặc không có điều kiện để trả thì hai bên có thể thương lượng gia hạn thời gian trả nợ. Trường hợp đã hết thời gian gia hạn trả nợ mà người vay vẫn có hành vi trốn tránh nghĩa vụ thì người cho vay có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hoặc tố giác đến cơ quan điều tra nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm. Vậy trường hợp nào người vay tiền đến hạn không trả sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự?

2. Trả lời câu hỏi tư vấn về việc vay tiền đến hạn không trả

Câu hỏi tư vấn: Vào tháng 9/20xx, em đã cho bạn thân của em mượn 1 số tiền là 100 triệu. Lúc đó số tiền này mẹ em đã đứng ra vay dùm cho bạn em, với lãi suất là 4%/tháng. Người này hiện đang ở Úc, lâu lâu mới về VN. Thời gian mượn chỉ có 3 tháng, nhưng đến thời điểm này thì người đó chỉ trả 2 tháng tiền lãi là tháng 10 & tháng 11/20xx, tổng cộng 8 triệu. Bây giờ người này lật lọng, nói là đã trả cho em tổng cộng 7000 AUD vào tháng 12/20xx, nhưng em hoàn toàn không nhận được số tiền trên. Nhà em yêu cầu đưa ra những chứng từ cần thiết chứng tỏ em đã nhận được 7000 AUD, nhưng họ nói là gửi qua công ty chuyển phát ở Úc, lâu rồi người ta không còn giữ giấy tờ nữa và giờ cũng không đồng ý trả tiền cho em. Theo em biết người này vẫn chưa nhập quốc tịch ở Úc, hiện tại vẫn là công dân VN. Tội của người này có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được không ạ? Em có tất cả tin nhắn, và những đoạn chat giữa em và người đó suốt năm 2013, về việc xin phép em gia hạn thời gian trả tiền, xin khất nợ. Bây giờ em cần ghi âm lại chuyện người đó xác nhận đã mượn tiền của em là được rồi đúng không ạ? Em còn cần thêm nhân chứng nữa không vì em có mấy người bạ cũng bị người này lừa đảo nhưng số tiền nhỏ thôi (khoảng 5 triệu), những người đó có thể làm chứng. Em cần làm thủ tục gì để thưa người này về tội lừa đảo? Thời gian giải quyết là bao lâu?

Trả lời tư vấn

Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi yêu cầu tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia. Với nội dung bạn yêu cầu tư vấn, Công ty Luật Minh Gia trả lời tư vấn như sau:

Thứ nhất, vay tiền đến hạn không trả có phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;”

Theo quy định trên, người nào có thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn gian dối được hiểu là việc người phạm tội đã đưa ra những thông tin giả dối như bằng lời nói dối, giả mạo giấy tờ, giả mạo người có chức vụ quyền hạn… khiến cho người khác tin tưởng, tự nguyện giao tài sản cho mình rồi chiếm đoạt số tài sản đó. Người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản ngay từ ban đầu, trước khi họ nhận được tài sản từ nạn nhân, ý định chiếm đoạt tài sản cũng chính là động cơ khiến cho người phạm tội thực hiện các thủ đoạn gian dối.

Theo như thông tin bạn cung cấp, người bạn thân đã vay tiền của bạn với thời hạn vay 03 tháng nhưng mới chỉ trả lãi được 2 tháng tiền lãi, sau đó họ lật lọng nói đã trả tiền nhưng thực tế lại chưa trả. Đối với trường hợp này, người bạn thân của bạn chưa có các thủ đoạn gian dối và ý định chiếm đoạt tài sản tại thời điểm vạy tiền nên chưa đủ các yếu tố cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 BLHS năm 2015.

Mặc dù chưa có đầy đủ căn cứ để cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS 2015) nhưng hành vi của người bạn thân của bạn đã có dấu hiệu của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS năm 2015). Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 175 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

…2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;”

Theo quy định trên, người nào vay tiền của người khác rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình thì có thể phải chịu TNHS về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đối với tội phạm này, người phạm tội đã nhận được tiền từ người khác thông qua một hợp đồng hợp pháp là hợp đồng vay tài sản. Sau khi nhận được tiền thì người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền đó hoặc đến thời hạn phải trả nợ nhưng cố tình không trả mặc dù có điều kiện, khả năng chi trả.

Quay trở lại với sự việc của bạn, người bạn thân đã vay bạn số tiền là 100.000.000 đồng với thời hạn vay 03 tháng nhưng mới chỉ trả được 02 tháng tiền lãi. Sau đó, người bạn này có đưa ra thông tin là đã trả bạn 7000 AUD, gửi qua công ty chuyển phát ở Úc nhưng thực tế bạn lại chưa nhận được số tiền trên và người đó cũng không đưa ra được các bằng chứng chứng minh rằng đã trả tiền cho bạn. Trường hợp này, có thể nhận thấy người bạn thân của bạn có dấu hiệu dùng thủ đoạn gian dối là nói dối việc đã trả tiền cho bạn thông qua công ty chuyển phát ở Úc để chiếm đoạt số tiền đã vay, có dấu hiệu của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 BLHS năm 2015. Khi có căn cứ cho rằng người đó phạm tội, bạn có thể làm đơn tố giác tội phạm kèm theo các chứng cứ hiện có gửi đến Cơ quan điều tra (Công an cấp quận/huyện/thành phố) để giải quyết theo quy định pháp luật.

Thứ hai, quy định pháp luật về hạn giải quyết tố giác tội phạm

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thời hạn giải quyết tin báo về tội phạm như sau:

“Điều 147. Thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định:

a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự;

b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;

c) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.”

Theo quy định trên, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được đơn tố giác tội phạm thì cơ quan điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong 03 quyết định: (i) Quyết định khởi tố vụ án hình sự; (ii) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và (iii) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác. Trường hợp đã xác định có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra sẽ khởi tố vụ án hình sự và tiến hành các hoạt động điều tra, thời hạn điều tra tùy thuộc vào phân loại tội phạm và tính chất phức tạp của vụ án hình sự.

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Liên hệ tư vấn