Hai người con gái muốn hưởng di sản thừa kế của mẹ giải quyết như thế nào?
Nội dung tư vấn:Tôi xin trình bày và xin nhờ luật sư tư vấn cho tôi nội dung như sau: - Bà tôi sinh năm 1906. Bà tôi có 2 người con gái, cả 2 người này đều đi lấy chồng và có nhà riêng. Bà tôi sinh sống trên mãnh đất có diện tích 1470m2, sử dụng vào mục đích “đất thổ cư” có sổ mục kê lập đo đạc địa chính của UBND xã năm 1996 xác định. Quá trình sử dụng này, bà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. - Năm 1983 bà có cho vợ chồng người cháu trai (gọi bà bằng cô ruột) làm nhà ở trên 1 phần diện tích đất nói trên. - Ngày 20/10/1996, lúc này bà đã già yếu nằm 1 chổ và không còn minh mẫn (90 tuổi) được người cháu gọi bằng cô ruột làm một bản chuyển nhượng bằng giấy tay có điểm chỉ, có chử ký của người cháu trai và có xác nhận của Phó Chủ tịch UBND xã vào ngày 30/10/1996. (Bà tôi không biết chử) - Sau đó ít hôm bà tôi chết, 10 ngày sau khi bà tôi chết thì người cháu trai này cũng chết, nên mọi thủ tục chuyển quyền cho người cháu trai này không thực hiện được. - Ngày 26/4/1997, 2 người con gái của bà tôi viết đơn gửi đến UBND xã đề nghị lấy lại mãnh đất nói trên. UBND xã đã tiến hành làm việc và giải quyết nhiều lần nhưng không thống nhất. - Đến ngày 03/10/2005 sau nhiều lần giải quyết thì UBND xã đã ban hành Quyết định về việc giải quyết phân chia quyền sử dụng đất của bà tôi như sau: Cho vợ của người cháu trai nói trên được quyền sử dụng 400m2 đất (trong đó có 200 m2 làm nhà ở và 200 m2 đất vườn); 02 người con gái của bà tôi được quyền sử dụng 1.070m2 đất còn lại. - Không đồng ý với quyết định của UBND xã nói trên, ngày 12/5/2014 vợ của người cháu trai gửi đơn cho UBND huyện, Phòng Tài nguyên môi trường và tòa án nhân dân huyện. - Năm 2017 người con của bà tôi muốn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vẫn không làm được.
Hỏi: Vậy luật sư cho tôi hỏi những người con của bà tôi có quyền lợi như thế nào về mãnh đất nói trên và các bước để giải quyết vụ việc nói trên như thế nào. Rất mong được sự tư vấn của luật sư. Xin cảm ơn luật sư.
Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:
Do bà của bạn lập di chúc ngày 30/10/1996 cho nên sẽ áp dụng Bộ luật dân sự năm 1995 để xem xét tính hợp pháp của bản di chúc và việc phân chia di sản thừa kế.
Căn cứ theo quy định tại Điều 655 về Di chúc hợp pháp của Bộ luật dân sự năm 1995 như sau:
1- Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
2- Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
3- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
4- Di chúc bằng văn bản không có chứng nhận, chứng thực như quy định tại Điều 660 của Bộ luật này chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
Căn cứ theo quy định tại Điều 661 về Thủ tục lập di chúc tại Công chứng nhà nước hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của Bộ luật dân sự năm 1995 như sau:
Việc lập di chúc tại Công chứng nhà nước hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây:
1- Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc.
2- Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được, thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.
Do ở đây, bạn chưa nói rõ cho nên chưa thể xác định bản di chúc do bà bạn để lại là hợp pháp hay không hợp pháp do đó sẽ chia là 2 trường hợp như sau:
Thứ nhất, bản di chúc của bà nội bạn để lại là hợp pháp theo quy định tại Điều 655 và Điều 661 của Bộ luật dân sự năm 1995 thì đối với trường hợp này, người cháu sẽ được hưởng di sản thừa kế của bà nội bạn để lại. Nếu như 2 người con của bà nội bạn không thuộc trường hợp những Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc quy định tại Điều 672 của Bộ luật dân sự 1995 thì người cháu sẽ được hưởng toàn bộ di sản thừa kế mà bà nội bạn để lại. Còn nếu thuộc trường hợp quy định tại Điều 672 thì những người con của bà sẽ được hưởng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật.
Thứ hai, bản di chúc của bà nội bạn để lại là không hợp pháp theo quy định tại Điều 655 và Điều 661 của Bộ luật dân sự năm 1995.
Căn cứ theo quy định tại Điều 679 về Người thừa kế theo pháp luật của Bộ luật dân sự năm 1995 như sau:
1- Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.
2- Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3- Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chối nhận di sản.
Đối với trường hợp này, người cháu gọi bà nội bạn là cô không phải là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật cho nên sẽ không được hưởng di sản thừa kế của bà nội bạn để lại. Cho nên di sản thừa kế mà bà nội bạn để lại sẽ chia đều cho những người được hưởng theo hàng thừa kế thứ nhất bao gồm là hai người con của bà nội bạn thành 2 phần. Mảnh đất của bà nội bạn để lại là 1470 m2 cho nên mỗi người con gái của bà nội bạn sẽ được hưởng 735 m2.
Trân trọng.
Luật sư/CV tư vấn: Vi Thị Huyền - Luật Minh Gia
Liên hệ để được hỗ trợ nhanh nhất