LS Nguyễn Mạnh Tuấn

Giải quyết trường hợp bị khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn

Giao dịch vay tài sản là giao dịch phổ biến trong đời sống xã hội nhưng cũng thường xảy ra tranh chấp nếu như các bên không thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ của mình. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi cho vay, các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết tranh chấp.

1. Luật sư tư vấn luật Dân sự

Xuất phát từ mục đích vay là do thiếu hụt về vốn, chủ yếu để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, không thể tự mình xoay sở được nên các giao dịch vay thường xuyên xuất hiện trong đời sống. Bên cạnh đó, cũng xuất phát từ hoạt động cho vay từ các tổ chức tín dụng khi mà mọi hoạt động của họ đều nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Chính vì vậy, tổ chức tín dụng thường tìm đến những hợp đồng tín dụng có giá trị lớn dựa trên sự định giá tài sản bảo đảm tại thời điểm cho vay.

Thế nhưng, bên cho vay thường xuyên phải đối mặt với việc đã đến hạn trả nợ nhưng bên vay lại không chủ động thực hiện nghĩa vụ. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi cũng như việc thu hồi vốn của bên cho vay. Trong phạm vi dân sự, khi phát sinh tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ, các bên sẽ khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ, áp dụng các biện pháp cưỡng chế, phong tỏa tài sản của bên vay.

Thủ tục tố tụng luôn là vấn đề rất nhiều người còn vướng mắc, không biết nên làm gì, giải quyết ra sao để vừa đơn giản, nhanh chóng, các kết quả có thể xảy ra trong bản án của Tòa,… Nếu bạn còn thắc mắc về việc khởi kiện liên quan đến giao dịch vay tài sản, hãy gửi câu hỏi tư vấn về Email của chúng tôi hoặc gọi Tổng đài 1900.6169 để được đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Minh Gia giải đáp kịp thời.

2. Tư vấn giải quyết trường hợp bị khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn

Nội dung câu hỏi: Gia đình bạn tôi có chị gái và anh rễ (anh chị A) thành lập công ty hơn 10 năm nay trước đây. Trước đây rất phát triển việc gửi tiền và tiết kiệm ở ngân hàng là điều bình thường tuy nhiên năm 2018 công ty đã dính đến pháp luật liên quan đến vay vốn hoạt động không có khả năng trả nợ và phía ngân hàng cho vay đã phát đơn kiện. Quý luật sư cho tôi hỏi thời gian trước đây bạn tôi đã được chị gái chuyển khoản giữ hộ tiền và các giao dịch không liên quan đến chị gái mà là chị gái thông qua một người khác giao dịch với bạn tôi như vậy có dính dáng gì đến việc điều tra của cơ quan điều tra không và những hành vi nhận tiền mặt và tài sản không có chứng cứ có bị xem là đồng phạm không. Trân trọng cảm ơn!

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cần tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia, với thắc mắc của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Do những thông tin bạn cung cấp chưa rõ ràng do đó chúng tôi chưa xác định được ngân hàng gửi đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết khoản nợ hay là gửi đơn đến cơ quan công an để yêu cầu khởi tố vụ án do đó chúng tôi chia thành các trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, nếu phía ngân hàng gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân để khởi kiện vụ án dân sự.

Với trường hợp này, nếu phía ngân hàng khởi kiện ra tòa án thì đây được xác định là vụ việc dân sự, phía ngân hàng chỉ khởi kiện với mục đích yêu cầu anh chị A thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho phía ngân hàng khi đến thời hạn trả nợ. Nếu anh chị A không trả nợ thì ngân hàng khởi kiện ra Tòa nhằm mục đích yêu cầu Tòa án xem xét và cưỡng chế những tài sản của anh chị A để trừ vào số nợ vẫn còn nợ ngân hàng. Do đó, việc giao dịch giữa bạn của bạn với chị A sẽ được Tòa án xem xét khi có căn cứ chứng minh được những khoản giao dịch đó là tài sản của chị A để tiến hành cưỡng chế yêu cầu trả nợ.

Với trường hợp phía ngân hàng chỉ khởi kiện dân sự thì hành vi giao dịch chuyển khoản trước đây mà bạn của bạn thực hiện với chị gái sẽ không bị coi là đồng phạm.

Trường hợp thứ hai, nếu phía ngân hàng gửi đơn đến cơ quan công an yêu cầu xem xét khởi tố vụ án hình sự.

Nếu phía ngân hàng xác định được vợ chồng anh chị A có hành vi trốn tránh, cố tình không trả khoản nợ mặc dù vẫn còn tài sản để thực hiện nghĩa vụ thì anh chị A có thể bị xem xét truy tố trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ Luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung bởi BLHS 2017). Điều 175 quy định như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. ..."

Nếu anh chị A bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì trong quá trình điều tra xác định cơ quan công an có thể sẽ điều tra xem xét đến các giao dịch chuyển khoản giữa chị A và bạn của bạn để xác định nguồn gốc tài sản và mục đích của việc chuyển khoản đó là gì, bạn của bạn có biết rõ về mục đích của chị A hay không.

Với trường hợp này nếu tài sản mà chị A chuyển trực tiếp cho bạn của bạn hoặc thông qua một người thứ ba chuyển cho bạn của bạn không phải là tài sản bất hợp pháp hoặc bạn của bạn không biết đó là tài sản do phạm tội mà có thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu trong trường hợp anh chị A chuyển tiền cho bạn của bạn với mục đích tẩu tán tài sản để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn và bạn của bạn biết rõ mục đích đó, cơ quan điều tra xác định được có hành vi giúp sức tẩu tán tài sản trên thực tế thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với vai trò đồng phạm dạng người giúp sức. Điều 17 Bộ luật hình sự 2015 quy định về đồng phạm như sau:

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.”

Hotline: 1900 6169