LS Nguyễn Mạnh Tuấn

Điều kiện khởi kiện vụ án lao động

Điều kiện khởi kiện và thụ lý vụ án về tranh chấp lao động được hướng dẫn và quy định cụ thể tại Bộ luật Lao động như sau:

1. Về điều kiện khởi kiện vụ án lao động

Bộ luật lao động quy định tranh chấp lao động (trừ các loại việc tranh chấp về sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động, tranh chấp về Bảo hiểm xã hội quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 201 Bộ luật lao động 2012, tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng), các bên phải đưa việc tranh chấp ra hòa giải.

Chỉ trong các trường hợp hòa giải không thành (có biên bản hòa giải không thành), hoặc hòa giải thành nhưng một trong các bên không thực hiện biên bản hòa giải thành, hoặc hết thời hạn quy định mà việc tranh chấp không được đưa ra hòa giải, thì các bên mới có quyền khởi kiện tại Tòa án.

Quy định về thủ tục hòa giải là bắt buộc, do đó, nếu đương sự khởi kiện vụ tranh chấp lao động mà chưa bảo đảm các điều kiện nói trên, thì Tòa án phải xác định là chưa đủ điều kiện khởi kiện.

Theo quy định tại Bộ luật lao động thì việc hòa giải các tranh chấp lao động do Hòa giải viên lao động thực hiện. Do đó, nếu việc tranh chấp do các cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân khác không phải là Hòa giải viên lao động tiến hành hòa giải đều không có giá trị. Khi tiếp nhận đơn kiện, nếu việc kiện thuộc trường hợp này, cũng coi là chưa đủ điều kiện khởi kiện.

Trong thực tế đã xảy ra một số tình huống khá phức tạp, chưa được hướng dẫn, nên các Tòa án có quan điểm xử lý khác nhau. Dưới đây là một số trường hợp cụ thể:

+ Khi xảy ra tranh chấp, các bên đã yêu cầu hòa giải; hòa giải viên lao động đã hòa giải thành; các bên đã thực hiện biên bản hòa giải thành, nhưng sau đó người lao động thấy không thỏa đáng nên khởi kiện đòi bồi thường thêm. Trường hợp này  Tòa án có thụ lý đơn kiện để giải quyết hay không?

Khi vụ việc tranh chấp đã được đưa ra hòa giải và đã hòa giải thành thì một hoặc các bên chỉ có quyền được đưa vụ việc ra Tòa án nếu một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành. Trường hợp bên người sử dụng lao động đã thực hiện biên bản hòa giải thành, nhưng người lao động khởi kiện đòi bồi thường thêm, thì yêu cầu đó vượt quá phạm vi nội dung mà các bên đã thỏa thuận, do đó người lao động không có quyền khởi kiện đòi bồi thường thêm, trừ trường hợp có căn cứ cho thấy sự thỏa thuận giữa các bên trong biên bản hòa giải thành có vi phạm pháp luật hoặc đạo đức xã hội.

+ Sau khi Thanh tra lao động đã có quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, các bên có được khởi kiện tại Tòa án nữa hay không?

Khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ tranh chấp và yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu là hai thủ tục khác nhau. Khi hợp đồng lao động vô hiệu, thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên liên quan đến nội dung bị tuyên bố vô hiệu được giải quyết theo các quy định tương ứng trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác.

Theo quy định tại Điều 50 BLLĐ 2012 thì hợp đồng lao động có thể bị vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ; quyền, nghĩa vụ của các bên trong nội dung bị tuyên bố vô hiệu được giải quyết theo Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 44/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ 2012.

Theo Điều 12 của Nghị định số 44/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ thì:  ”Trường hợp không đồng ý với quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu thì người sử dụng lao động hoặc người lao động tiến hành khởi kiện tại Tòa án hoặc khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”.

Do đó, khi không đồng ý với quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án.

>> Tư vấn quy định về khởi kiện lao động, gọi: 1900.6169

---

2. Tư vấn tranh chấp lao động cá nhân về chốt và trả sổ bảo hiểm xã hội

Câu hỏi:

Em là nhân viên tiếp thị tư vấn sản phẩm tại công ty A. Tháng 10/201x em không có tiền lương doanh số em hỏi tại sao không có và tháng sau có được bù không. Đến khi nhận lương tháng 11/201x cũng không được bù em có hỏi tại sao thì phía công ty không trả lời mà người này bảo hỏi người kia. Ngày 11/01/201x em nhận doanh số tháng 12/201x cao gấp 3,0866 lần nhân viên khác. Ngày 13/01/20xx em thông báo xin nghỉ việc, phía công ty đã đồng ý.

Em xin phép làm đến cuối tuần rồi em nghỉ việc và có hỏi: "Bây giờ viết đơn hay cuối tuần viết đơn ạ", phía công ty trả lời: "Bây giờ viết cũng được , cuối tuần viết cũng được" (lúc đó phía công ty em cũng không cung cấp cho em mẫu đơn xin nghỉ việc theo quy định). Đến ngày 17/01/20xx em viết đơn xin nghỉ việc gửi gmail và phía công ty có gửi lại gmail bảo em đi làm và em trả lời lại là "Doanh số áp cao quá em không bao giờ có thể đạt nổi nên em xin nghỉ thôi". Sau đó phía công ty mới gửi cho em mẫu đơn xin nghỉ việc theo quy định và em đã viết lại gửi ngay trên gmail đó.

Nhưng đến khi tính lương lại trừ lương của em (trừ hơn 50%) lỗi vi phạm không báo trước. Em hỏi mãi thì phía công ty trả lời lại là "em tự ý nghỉ việc, công ty không liên lạc được với em khi em nghỉ việc". Em có đầy đủ bằng chứng chứng minh em đã xin nghỉ việc phía công ty đã đồng ý và phía công ty có liên lạc được với em khi em viết đơn. Theo quy định của pháp luật là em sẽ được nhận lại sổ bảo hiểm muộn nhất là sau 30 ngày nhưng đến hôm nay 21/03/21xx em vẫn chưa nhận được sổ bảo hiểm. Như vậy là có vi phạm Luật Lao động không? Em muốn tố cáo công ty trả thiếu lương và không trả sổ bảo hiểm cho người lao động thì cần những thủ tục gì?

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi, luật Minh Gia xin trả lời bạn như sau:

Vấn đề thứ nhất về trách nhiệm của người sử dụng lao động

Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật lao động 2012:

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

... 2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động..."

Như vậy, đến hiện tại, phía công ty không chốt và trả lại sổ bảo hiểm cho bạn khi bạn là đã vi phạm quy định của pháp luật.

Vấn đề thứ hai về việc chấm dứt hợp đồng lao động

Ngày 13/01/201x bạn có thông báo với công ty về việc nghỉ việc và được công ty đồng ý, nếu bạn chứng minh được thì được coi là bạn đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng luật và không có nghĩa vụ bồi thường. 

Theo đó, việc công ty không trả đủ lương và chưa chốt trả sổ bảo hiểm cho bạn, trước hết bạn có thể làm đơn khiếu nại gửi lên ban lãnh đạo công ty, trình bày sự việc để được giải quyết. Trong trường hợp công ty không giải quyết bạn có thể gửi đơn khiếu nại đến phòng lao đọng thương binh và xã hội để hòa giải viên lao động đứng ra hòa giải, giải quyết vụ việc. 

Ngoài ra, nếu vụ việc của bạn vẫn không được giải quyết hoặc bạn không muốn thực hiện thực hiện các thủ tục trên, bạn có thể làm đơn kiện trực tiếp ra Tòa vì vụ việc của bạn không bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải theo quy định tại Điều 201 Bộ luật lao động 2012

"Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao đọng cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao đọng cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

... d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật vè bảo hiểm xã hội..."

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ bạn vui lòng liên hệ 1900.6169 để được giải đáp.

Hotline: 1900 6169