Vũ Thanh Thủy

Vay nặng lãi mất khả năng chi trả

Nội dung câu hỏi: Kính gởi Luật gia. Gia đình tôi hiện nay đang gặp ván đề như sau: anh trai tôi hiện nay 31 tuổi, có vay 1 số tiền từ nhiều người lên dến 1,5 tỷ đồng, lãi suất bình quân khoảng 30-40%/năm.

 

 Anh tôi đã tiêu xài số tiền trên vào việc đánh bài, cá độ và không có khả năng chi trả. Gia đình tôi cũng không đủ khả năng để trả số tiền này. Hiện nay có 1 số chủ nợ đến làm áp lực, đe doạ gia đình tôi phải trả số tiền nêu trên nhưng gia đình tôi từ chối và bị uy hiếp. Nay gia đình tôi động viên anh trai tôi viết đơn tự thú kê khai danh sách chủ nợ và số tiền đã vay gởi ra công an. Luật sư cho tôi hỏi, nếu thụ lý thì mức án cao nhất anh trai tôi phải đối mặt là gì. Cũng xin nói thêm anh tôi ko có tài sản gì, toàn bộ ts đều đứng tên cha mẹ. Tôi xin chân thành cảm ơn.

 

 

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn tới công ty Luật Minh Gia, chúng tôi đưa ra tư vấn cho bạn như sau:

 

Căn cứ thông tin bạn cung cấp có thể thấy anh bạn đang xác lập giao dịch dân sự với bên cho vay. Trường hợp anh bạn vay tiền và sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì anh bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017:

 

 “Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

 

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

 

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

 

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

...

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

...”

 

Như vậy, với số tiền lên đến 1,5 tỷ thì anh bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 4 điều luật nêu trên với mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù.

 

Đối với hành vi của bên cho vay thì có thể cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nếu đáp ứng đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 như sau:

 

“Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

 

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

 

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

 

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

 

Và mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 được xác định theo Điều 468 như sau:

 

“Điều 468. Lãi suất

 

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

 

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

 

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

 

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”

 

Như vậy, căn cứ thông tin bạn cung cấp, nếu anh bạn vay với mức lãi suất 30 - 40%/1 năm thì hành vi của những người cho vay lãi nặng có thể chưa đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó, bạn cần xem xét lại mức lãi suất cho vay đã vượt quá 5 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của pháp luật và thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên hay chưa? Hoặc người phạm tội có thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính; đã bị kết án bởi tội này mà chưa được xóa án tích thì mới có đủ căn cứ để xác định tội phạm cho vay lãi nặng.

 

Trường hợp chưa đủ yếu tố cấu thành tội cho vay lãi nặng theo quy định của pháp luật hình sự thì hành vi của bên cho vay có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

 

“Điều 11. Vi phạm các quy định về quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự

...

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

...

d) Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay.

...”

 

Trân trọng!

CV Dương Xuân - Công ty Luật Minh Gia

 

 

Liên hệ để được hỗ trợ tốt nhất

Tư vấn nhanh