Lại Thị Nhật Lệ

Tư vấn về tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Cách đây khoảng 1 năm tôi có quen 1 người qua mạng xã hội, sau đó có góp vốn làm ăn với cô ta, tôi đưa tiền để cô ta mua hàng và sau đó cô ta nói người mua nợ chưa có tiền trả cho đến nay, lần thứ 2 ngay sau đó thì góp thêm vốn đặt hàng 50 triệu nhưng mới chỉ đặt 30 triệu còn 20 triệu cô ta nói chuyển tiền cho xưởng không rút lại được, sau đó tôi yêu cầu đưa hóa đơn chứng từ đặt hàng nhưng cô ta không trình ra được mà viện đủ lý do để trốn tránh.

Sau khi biết bị lừa (tổng gần 50 triệu) tôi đã nhiều lần hẹn gặp nói chuyện và đòi lại tiền (Có ghi âm lại mọi cuộc nói chuyện) và nhiều tin nhắn... Vừa qua tôi đăng tải thông tin lừa đảo của cô ta trên mạng xã hội và liên lạc được hơn 10 người khác cũng bị lừa và có ý muốn làm đơn trình báo công an (người thì góp vốn như tôi, người thì bị lừa chạy việc...). Nhưng tất cả mọi người đều không biết tên thật, số CMT ... và địa chỉ của cô ta (Vì cô ta toàn thuê nhà để ở và luôn di chuyển). Vậy xin hỏi Luật sư: Với số lượng hơn 10 người bị lừa (Người thì có tin nhắn, ghi âm, người thì có giấy tờ viết tay nhưng không chắc đó là tên thật) cùng làm đơn tố cáo với các chứng cứ chỉ có như nêu trên thì cơ quan công an có đủ điều kiện để bắt và khởi tố cô ta không ạ? Rất mong được luật sư trợ giúp và giải đáp.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tư vấn đến công ty Luật Minh Gia. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ theo điều 174 bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về  tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ."

Như vậy, dựa trên những thông tin mà bạn cung cấp người kia đã có hành vi gian dối, đưa ra những thông tin không đúng sự thật: về tên, chỗ ở, việc mua bán, góp vốn làm ăn chung để nhằm cho bạn tin tưởng và giao tiền và những người khác đưa tiền cho người này chạy việc nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, khi lấy được tiền và bị nghi ngờ có dấu hiệu lừa đảo thì thực hiện bỏ trốn. Do đó, người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tùy theo số tiền chiếm đoạt, tính chất của hành vi mà người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt tương ứng.

Căn cứ theo Điều 144 bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về tố giác và tin báo về tội phạm:
    

“Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.

3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.

5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

Như vậy, bạn có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Việc tố giác có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng, nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Cơ quan, tổ chức khi nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản. Trong trường hợp này, bạn và những người khác có thể làm đơn tố giác tội phạm gửi lên cơ quan công an xã phường thị trấn về hành vi của người này. Kèm theo đơn tố giác là các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ về hành vi lừa đảo. Tuy bạn không biết tên thật, nơi cư trú nhưng nếu có đủ giấy tờ, tài liệu chứng cứ, chứng minh về hành vi lừa đảo như đoạn tin nhắn, hình ảnh, giấy tờ chuyển khoản, giao dịch v.v.. thì cơ quan công an, cơ quan điều tra vẫn sẽ tiếp nhận vụ án. Cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra, xác minh làm rõ vụ việc nếu thấy có dấu hiệu của lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án

Trân trọng!

Cv: Vũ Nga _ Luật Minh Gia.