LS Dương Châm

Tư vấn về sang tên nhà ở khi tặng cho và thừa kế

Hỏi: Năm 1994, cha tôi mất không để lại di chúc. Mẹ tôi sinh năm 1929 hiện vẫn còn khoẻ mạnh.
 Cha mẹ tôi có 9 người con, nay mẹ tôi muốn làm giấy tờ để lại 2 căn nhà cấp 4 trong hẻm cho hai người con, mỗi người một căn, 2 căn nhà này cha mẹ tôi cùng đứng tên sở hữu. Vậy thì thủ tục sang tên nhà như thế nào ạ?

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:
 
Vì 2 căn nhà cấp 4 là thuộc sở hữu chung của cả bố và mẹ bạn. Hiện nay bố bạn đã mất và không để lại di chúc. Do đó, hai căn nhà cấp 4 sẽ được chia đôi, một phần thuộc sở hữu của mẹ bạn và phần còn lại là thuộc sở hữu của bố bạn.
 
Như vậy, hiện tại mẹ bạn không thể sang tên 2 căn nhà cấp 4 cho 2 người con kia được vì 1 nửa tài sản đó là thuộc sở hữu của bố bạn, phải chia theo pháp luật.
 
Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 về Người thừa kế theo pháp luật:
 
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
 
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.
 
Theo đó, nếu như còn thời hạn chia thừa kế thì một nửa tài sản của bố bạn sẽ chia đều cho mẹ bạn và 9 người con. Vậy mẹ bạn chỉ có quyền sang tên phần căn nhà thuộc sở hữu của mình.
 
Nhưng theo quy định tại Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 về thời hiệu khởi kiện thừa kế:

"Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế..."

Do đó, vì bố bạn đã mất từ năm 1994 nên hiện nay đã hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế, theo quy định tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 hướng dẫn thì:

- Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

+ Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

+ Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

+ Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

- Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.

Theo như bạn trình bày hiện tại mẹ bạn muốn làm giấy tờ để lại 2 căn nhà cấp 4 trong hẻm cho hai người con, vậy chúng tôi có thể hiểu là việc chia tài sản đó có sự thoả thuận của mẹ bạn và 9 người con với nhau. Đồng thời, 2 căn nhà đó cũng đang thuộc sự quản lý của mẹ bạn.  Do đó, di sản này sẽ được chuyển thành tài sản chung của các thừa kế, chia theo sự thoả thuận của mẹ bạn và 9 người con đó. Vậy phần nhà thuộc sở hữu của mẹ bạn sẽ do mẹ bạn tặng, cho 2 người con đó, phần nhà thuộc di sản thừa kế sẽ do mẹ bạn và 9 người con thoả thuận với nhau để chuyển sang cho 2 người con đó.

Do đó trước khi yêu cầu sang tên nhà ở sang cho 2 người con đó, gia đình bạn cần làm một biên bản họp gia đình với nội dung thoả thuận về việc này.
 
Sau đó, gia đình 2 người con nhận thừa kế cần ra Uỷ ban nhân dân xã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế đồng thời nộp lại biên bản họp gia đình .
 
Tuy nhiên, nếu các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.

Đối với phần căn nhà thuộc sở hữu của mẹ bạn sang tên, các bên tiến hành lập hợp đồng cho tặng tài sản tại Văn phòng công chứng (hoặc tại Uỷ ban nhân dân xã).
 
Sau khi đã hoàn tất thủ tục trên, gia đình bạn tiến hành thủ tục sang tên quyền sử dụng đất tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng tài nguyên và môi trường cấp quận/ huyện nơi có đất.
 
Hồ sơ, bao gồm:
 
1. Đơn đề nghị đăng ký biến động (theo mẫu).
 
2. Hợp đồng cho tặng (bản chính) (nếu có)
 
4. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở (bản chính).
 
5. Bản sao chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của các bên (có chứng thực) (nếu có).
 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tư vấn về sang tên nhà ở khi tặng cho và thừa kế. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng!
 
CV. Hoài Trang - Công ty Luật Minh Gia
 

Hotline: 1900 6169