Lại Thị Nhật Lệ

Quy định về chấm dứt hợp đồng lao động

Chào luật sư, Hiện tại tôi đang làm việc tại công ty tư nhân tại Hà Nội, ngày làm việc từ 05/10/201x đến nay. Thời gian từ 05/10/201x - 05/11/202x tôi có nhận và kí kết bản hợp đồng thử việc trong vòng 1 tháng. Sau khi kết thúc thời gian thử việc, tính đến nay tôi vẫn chưa nhận đc hợp đồng chính thức như đã hứa của bên sử dụng lao động.

Trong tháng 1 năm 2016, tôi có yêu cầu về HĐLĐ, thì bên sử dụng lao động có trả lời là trong tháng 1 sẽ có, tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có. Do đó, tôi có nhu cầu xin nghỉ việc, nhưng bên phía sử dụng LĐ, yêu cầu tôi phải hoàn thành 30 ngày làm việc, tính từ thời điểm tôi báo xin nghỉ, Hôm nay, sau khi tôi đã báo xin nghỉ, công ty ra một chính sách mới, trong đó có thêm điều khoản là toàn bộ lương, thưởng chế độ sẽ được trả trong vòng 45 ngày kể từ khi nghỉ việc. Tôi nghĩ đây là một hành vi cố ý giữ lương của tôi. Vậy Luật sư cho tôi hỏi, bên phía công ty làm vậy là đúng hay sai? Quy định thế nào? Xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tư vấn đến công ty Luật Minh Gia. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ theo Điều 7 nghị định 05/2015/ NĐ - CP quy định về thông báo kết quả về việc làm thử:

''1. Trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

2. Khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.''

Như vậy, sau khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả công việc người lao động đã làm, nếu đạt yêu cầu người lao động phải giao kết hợp đồng lao động ngay với người lao động. Trong trường hợp này, bạn đã làm việc được hơn 1 năm kể từ thời điểm kết thúc thời gian thử việc đạt yêu cầu người sử dụng lao động vẫn chưa giao kết hợp đồng lao động với bạn là không đúng theo quy định của pháp luật.

Và căn cứ theo Điều 5 nghị định 95/2013/NĐ - CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:

''1. Phạt tiền người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc cố định có thời hạn trên 3 tháng; không giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật Lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Như vậy, đối với hành vi của công ty: không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với bạn sau khi đã kết thúc thời gian thử việc là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi này, tùy từng mức độ và hành vi mà công ty sẽ bị xử phạt với số tiền tương ứng theo quy định  của pháp luật như trên. 

Căn cứ theo Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động quy định như sau:

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Như vậy, bạn có thể thỏa thuận với công ty để xin nghỉ việc hoặc nếu như bạn thuộc một trong các trường hợp tại khoản 1 Điều 37 thì được coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật, về nguyên tắc trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì người lao động phải thực hiện thông báo trước một thời hạn nhất định, đối với hợp đồng xác định từ 12 đến 36 tháng thì thời hạn là 30 ngày, tuy nhiên công ty chưa thực hiện giao kết hợp đồng bằng văn bản sau khi đã nhận bạn chính thức vào làm việc nên bạn không có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ thông báo trước.

Việc công ty giữ lương của bạn, trả lương, thưởng… sau 45 ngày sau khi bạn nghỉ việc là không đúng quy định. Theo Bộ luật lao động quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động, cụ thể là:

"Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày".

Như vậy, khi chấm dứt hợp đồng công ty có trách nhiệm trong vòng 30 ngày kể từ ngày chấm đứt hợp đồng phải thanh toán tiền lương đầy đủ cho người lao động. Có thể thấy trường hợp này công ty cố ý kéo dài thời hạn trả lương nhưng do bạn làm việc mà không giao kết hợp đồng nên khi có tranh chấp xẩy ra sẽ rất khó để bảo vệ quyền lợi. Bạn nên thương lượng để có thể lấy được tiền lương trong thời gian sớm nhất và rút kinh nghiệm khi đi làm việc ở những nơi khác.

Hotline: 1900 6169