Lò Thị Loan

Trình báo về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Quy định pháp luật hình sự hiện hành về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản? Mức hình phạt đối với tội phạm này?

Câu hỏi:
Năm 2014 do làm việc tại công ty nên tôi có quen 1 người tài xế, người này kêu tôi hùn hạp làm ăn, cụ thể là mua xe tải để chạy hàng và bán lại kiếm lời. Từ tháng 2/2014 đến tháng 2/2015 tôi đưa tiền nhiều lần cho người này, tổng cộng là hơn 1 tỷ đồng tuy nhiên không có giấy tờ mượn nợ hay hợp đồng mà chỉ có tin nhắn thừa nhận lấy tiền qua lại thôi.Tháng 3/2015 người này đánh bạc bị công an bắt, số tiền đánh bạc của 4 người là 59.200.000đ và bị tạm giam 3 tháng đến tháng 6/2015 thì được tại ngoại và đang chờ Tòa án xét xử. Người này có mua xe và bán lại nhưng tôi không được biết gì cả. Tôi yêu cầu trả nợ và ghi giấy nợ nhưng người này nói là không có lấy số tiền đó của tôi và chỉ thừa nhận mượn tôi có 400 triệu. Tôi có thể kiện người này về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Xin chân thành cảm ơn.

                                   Trình báo về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản


Trả lời: Chào bạn, trường hợp của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:

Căn cứ Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì một trong những dấu hiệu của tội này là người phạm tội phải có “thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác”.
Tuy nhiên, trường hợp của bạn, người kia có tài sản (cụ thể là số tiền hơn 1 tỷ đồng) là thông qua hợp đồng góp vốn với bạn. Tại thời điểm này họ chưa có thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của bạn, mà sau này họ mới không thừa nhận hợp đồng với bạn và chỉ thừa nhận mượn của bạn gần 400 triệu đồng.

Như vậy, trường hợp này có thể xem xét đến Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự, cụ thể:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
 a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
đ) Tái phạm nguy hiểm;
e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.”

Căn cứ về việc định tội danh tại khoản 1 Điều này thì trường hợp của bạn thuộc điểm a khoản 1: vay, mượn tiền rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt (người tài xế vay, mượn tiền của bạn hơn 1 tỷ đồng nhưng không thừa nhận có quan hệ vay mượn này)

Như vậy, bạn có thể trình báo với Cơ quan Công an cấp huyện nơi cư trú của bạn hoặc của người tài xế kia để được giải quyết, trong đó những tin nhắn về việc giao nhận tiền giữa các bạn là chứng cứ quan trọng của vụ án. Sau khi tiếp nhận vụ việc của bạn, cơ quan điều tra sẽ điều tra xem có căn cứ khởi tố hay không và giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự. Nếu vụ việc có đủ căn cứ để đưa ra xét xử tại Tòa án thì trong bản án của mình Tòa án sẽ tuyên giải quyết cả nghĩa vụ trả tiền của phía người tài xế đối với bạn.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Trình báo về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng!
CV: Nguyễn Ngọc – Công ty Luật Minh Gia.
 

Hotline: 1900 6169