Hoài Nam

Nhờ tư vấn về chấm dứt hợp đồng và nghỉ phép năm

Chào luật Minh Gia, Tư vấn giúp em 2 trường hợp này: - Lao động nữ nghỉ thai sản đã được 5 tháng. Giờ người ta thông báo là sẽ nghỉ việc luôn vì chăm sóc con do còn quá nhỏ không gửi nhà trẻ được.

Vậy người ta có phải đi làm 30 hay 45 ngày theo quy định (hợp đồng có thời hạn hoặc ko xác định thời hạn) kể từ ngày nộp đơn xin thôi việc không vậy? Và có tính từ thời điểm người lao động gửi đơn hay tính từ thời điểm hết chế độ thai sản vậy. Và có được tính là đơn phương  chấm dứt hợp đồng hợp pháp.

- Nghỉ phép năm: trường hợp người lao động thử việc từ 02/10/2015. Đến 01/01/2016 thì ký hợp đồng 11tháng. Đến tháng 9/2016 người lao động đó xin nghỉ phép 1tuần thì cty tính nghỉ phép ko lương vì chưa làm đủ 12 tháng nên chưa có 12 ngày phép. Mà trong luật lao động  em thấy có điều 114, người lao động được nghỉ phép tương ứng với số tháng làm việc (1tháng được 1ngày). Vậy theo cty điều này chỉ áp dụng với người lao động nghỉ việc, còn người lao động đang làm việc thì ko áp dụng? Như vậy có đúng ko. Nếu sai thì em phải lấy văn bản nào để thuyết phục người sử dụng lao động. Kính mong Luật Minh Gia tư vấn giúp em. Em xin chân thành cảm ơn.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn chúng tôi xin giải đáp như sau:

Thứ nhất, về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Theo Điều 37 Bộ luật Lao động 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động:

”1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.”

Căn cứ vào quy định trên thì nếu hợp đồng lao động xác định thời hạn thì người lao động muốn nghỉ việc cần có lý do chính đáng và làm đơn xin nghỉ việc thông báo trước ít nhất 30 ngày. Khi hết thời hạn 30 ngày, người đó được nghỉ việc, doanh nghiệp tiến hành báo giảm lao động mà không phải chờ đến thời điểm hết thời gian nghỉ thai sản.

Nếu hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì người lao động chỉ cần làm đơn xin nghỉ việc thông báo trước ít nhất 45 ngày mà không cần lý do. Khi đó, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là hợp pháp.

Như vậy, bạn hãy xem xét thời gian người lao động thông báo nghỉ việc để xác định đúng việc người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp hay không.

 

Thứ hai, về việc nghỉ phép năm.

 Căn cứ theo quy định tại Điều 114 Bộ luật Lao động 2012

“...2. Người lao động có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Trường hợp không nghỉ thì được thanh toán bằng tiền.”

Căn cứ khoản 3 Điều 26 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định tiền lương làm căn cứ để trả lương cho người lao động trong thời gian ngừng việc, nghỉ hằng năm, nghỉ lễ, tết, nghỉ việc riêng có hưởng lương, tạm ứng tiền lương và khấu trừ tiền lương 
... 
3. Tiền lương làm căn cứ trả cho người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm tại Điều 114 của Bộ luật Lao động được quy định như sau: 

a) Đối với người lao động đã làm việc từ đủ 06 tháng trở lên là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm. Đối với người lao động chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm vì các lý do khác là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người sử dụng lao động tính trả bằng tiền những ngày chưa nghỉ hằng năm; 

b) Đối với người lao động có thời gian làm việc dưới 06 tháng là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của toàn bộ thời gian làm việc..."

Như vậy, thời gian nghỉ hằng năm của người lao động có dưới 12 tháng làm việc được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Nếu người lao động không sử dụng những ngày nghỉ đó thì được người sử dụng lao động quy đổi bằng tiền để thanh toán cho người lao động. Quy định này được áp dụng với cả người lao động đang làm việc và người lao động thôi việc.

Trường hợp trên, người lao động đã làm việc được 8 tháng thì đã được hưởng số ngày nghỉ hàng năm tương ứng với số thời gian làm việc là 8 ngày nghỉ hàng năm hưởng nguyên lương.

Bạn có thể sử dụng quy định của điều luật trên để thuyết phục người sử dụng lao động

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Nhờ tư vấn về chấm dứt hợp đồng và nghỉ phép năm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng!

CV. Hồng Nhung - Công ty Luật Minh Gia.