Nguyễn Thu Trang

Khi người sử dụng lao động không chi trả trợ cấp thôi việc

Thưa Luật sư, em đang công tác tại công ty cổ phần từ tháng 4/2006 theo hợp đồng hiện tại là HĐ không xác định hời hạn. Em sẽ xin nghỉ việc từ năm 2016 để đi làm tại đơn vị khác (đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng báo cho Giám đốc công ty trước 45 ngày), sau đó em sẽ chính thức nghỉ. Như vậy xin cho em hỏi 2 vấn đề: 1. Nếu NSD LĐ đồng ý cho nghỉ việc thì em có hưởng trợ cấp thôi việc đúng không thưa Luật sư? và được hưởng như thế nào? 2. Nếu NSD LĐ cố tình không đồng ý cho em nghỉ vi
Nội dung tư vấn:

Cảm ơn bạn đã gửi nội dung tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia. Với những thắc mắc của bạn, chúng tôi xin đưa ra ý kiến tư vấn như sau:

Thứ nhất, khi người sử dụng lao động đồng ý cho nghỉ việc thì có được hưởng trợ cấp thôi việc không và mức hưởng như thế nào?

Thì theo quy định tại khoản 3 điều 37 Bộ luật lao động 2012: “Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.”

Theo quy định này bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần sự đồng ý của người sử dụng lao động nếu bạn tuân thủ thời gian báo trước là 45 ngày.

Như vậy, trường hợp bạn nêu là người sử dụng lao động đồng ý cho bạn nghỉ việc thì đây có thể hiểu là trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Khoản 3 Điều 36: “Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động

Trong trường hợp này thì theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Lao động 2012 về trợ cấp thôi việc thì bạn sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc:

Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
 
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.
 
3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.
 
Về mức hưởng trợ cấp thôi việc

Mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi bạn thôi việc.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 48 trên thì kể từ 1/1/2009 khi bạn tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội thì sẽ không được tính là thời gian hưởng trợ cấp thôi việc nữa. Như vậy thời gian bạn được tính trợ cấp thất nghiệp là từ tháng 4/2006 đến 1/1/2009. Với những tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng ½ năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.
 
Thứ hai, người sử dụng lao động cố tình không cho bạn nghỉ việc.

Thì theo quy định tại Khoản 3 Điều 37 ở trên thì pháp luật trao cho bạn quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi tuân thủ
thời hạn báo trước nên sau khi đã thực hiện việc báo trước 45 ngày cho người sử dụng lao động thì bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Và việc bạn nghỉ việc sau khi đã thực hiện nghĩa vụ báo trước là hợp pháp.

Khi bạn thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp thì bạn thuộc trường hợp tại Khoản 9 Điều 36 Bộ luật Lao động: Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 thì trường hợp của bạn được hưởng trợ cấp thất nghiệp vì vậy mà việc công ty yêu cầu bạn tự nguyện không nhận trợ cấp thôi việc mới được nghỉ việc là trái với quy định của pháp luật.

Theo quy định của pháp luật thì việc không chi trả trợ cấp thôi việc của người sử dụng lao động sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 8 Nghị định 95/2013/NĐ – CP:

Điều 8 Nghị định 95/2013/NĐ – CP quy định, trường hợp người sử dụng lao động không thanh toán trợ cấp thôi việc cho người lao động theo quy định thì bị phạt như sau:

a)Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
 
b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
 
c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
 
d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
 
đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.


Ngoài ra còn bị áp dụng biện pháp khắc phụ hậu quả là buộc phải  trả đủ tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho người lao động cộng với khoản tiền tính theo lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xử phạt của số tiền trợ cấp thôi việc.

Về cách giải quyết

Thì trước hết bạn có thể khiếu nại tới lãnh đạo công ty để được giải quyết quyền lợi. Nếu sau khi đã khiếu nại tới lãnh đạo công ty nhưng vẫn không được giải quyết, thì theo quy định tại Điều 201 Bộ luật lao động năm 2012, trường hợp giải quyết tranh chấp lao động cá nhân về trợ cấp thôi việc khi nghỉ việc không bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải cơ sở, do vậy bạn có thể lựa chọn gửi đơn yêu cầu giải quyết tới một trong 2 cơ quan sau:
 
- Phòng Lao động thương binh và xã hội hoặc;

- Gửi đơn khởi kiện tới Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty có trụ sở.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Khi người sử dụng lao động không chi trả trợ cấp thôi việc. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng!

CV: Nguyễn Thị Thủy - Công ty Luật Minh Gia

Hỏi tư vấn qua điện thoại