Trần Phương Hà

Hợp đồng lao động ngắn hạn quy định thế nào?

​Luật sư tư vấn trường hợp cần tư vấn về việc thử việc và ký hợp đồng ngắn hạn và trường hợp công ty chấm dứt hơp đồng lao động với lý do người lao động vào làm tại công ty chưa được 6 tháng đã có bầu có trái luật hay không? Điều kiện để hưởng chế độ thai sản. Giải quyết các vấn đề có liên quan.

1. Tư vấn quy định về hợp đồng lao động ngắn hạn

Câu hỏi:

Xin chào, cho tôi hỏi: - Công ty kí hợp đồng thử việc với nhân viên trong 2 tháng; - Nhân viên không hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu đặt ra ban đầu sau 2 tháng thử việc. Tuy nhiên, tính chất công việc đòi hỏi sự phức tạp và nhân viên cần thêm thời gian để chứng minh nên công ty quyết định kí thêm hợp đồng lao động ngắn hạn 3 tháng.

Hết thời hạn 3 tháng nhân viên vẫn chưa đáp ứng như mong đợi của công ty và nhân viên muốn gia hạn thêm 1 khoảng thời gian 1 tháng để chứng minh năng lực của mình, công ty cũng muốn cho thêm 1 cơ hội cuối cùng. Trong trường hợp này, công ty có thể kí tiếp 1 hợp đồng ngắn hạn tiếp theo đối với nhân viên này không? Nếu không, thì công ty có thể kí kết với loại hình hợp đồng nào? Rất mong nhận được hồi đáp của công ty. Thân!

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, về vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

- Về loại hợp đồng lao động

Theo quy định tại Bộ luật Lao động thì

“1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.''

Như vậy theo thông tin bạn cung cấp, đầu tiên công ty có kí 1 HĐ thử việc với nhân viên, đây là hợp đồng thử việc chưa phải là HĐLĐ. Sau đó do nhân viên không đạt được yêu cầu nhưng do tính chất phức tạp nên công ty ký 1 HĐLĐ ngắn hạn với thời hạn 3 tháng với nhân viên (HĐLĐ lần 1) đây là hợp đồng có thời hạn dưới 12 tháng. Nhưng sau 3 tháng nhân viên vẫn không đáp ứng được điều kiện thì công ty vẫn được ký với nhân viên một hợp đồng ngắn hạn nữa. Vậy công ty chỉ được ký một HĐLĐ  xác định thời hạn nữa, sau đó nếu người lao động vẫn muốn tiếp tục làm việc thì phải ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

---

2. Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật giải quyết thế nào?

Câu hỏi:

Luật sư cho em hỏi là em vào Công ty từ ngày 18/2/1019 và Công ty ký hợp đồng với em là 1 năm đến 18/3/2020 mới hết hạn hợp đồng mà giờ em báo bầu Công ty bảo là em vào Công ty chưa được 6 tháng đã có bầu và chấm dứt hợp đồng lao động với em thì cho em hỏi Công ty chấm dứt hợp đồng lao động đối với em như thế là đúng luật không ạ và em đóng bảo hiểm xã hội ở Công ty này được 3 tháng và Công ty trước được 1 năm 1 tháng bị ngắt quãng 1 tháng thì em có được hưởng chế độ thai sản không ạ? 

Trả lời tư vấn:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới công ty Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Căn cứ theo quy định tại Điều 38 về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động của Bộ luật lao động năm 2012 như sau:

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Như vậy, đối chiếu thông tin bạn cung cấp thì căn cứ chấm dứt hợp đồng công ty đưa ra không thuộc một trong các căn cứ được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, có thể xác định công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn trái pháp luật. Theo đó, phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 42 về Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật của Bộ luật lao động năm 2012 như sau:

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Đối với trường hợp này của bạn, nếu công ty chấm dứt hợp đồng trái luật với bạn thì bạn có quyền yêu cầu công ty phải thực hiện nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 42 của Bộ luật lao động năm 2012 đối với bạn. Do đó, phía công ty sẽ phải có trách nhiệm nhận bạn vào làm việc trở lại và bồi thường ít nhất 02 tháng lương; nếu bạn không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường 2 tháng tiền lương thì bạn còn được trả trợ cấp thôi việc; nếu công ty không muốn nhận bạn vào làm việc và bạn cũng không muốn làm việc tại công ty nữa thì ngoài khoản tiền bồi thường 2 tháng tiền lương và trợ cấp thôi việc như đã nêu trên thì công ty còn phải bồi thường thêm cho bạn ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Do đó, nếu công ty không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật lao động đối với bạn thì bạn có thể khởi kiện ra Tòa án để đảm bảo quyền lợi cho bạn.

Về điều kiện hưởng chế độ thai sản:

Căn cứ theo quy định tại Điều 31 về điều kiện hưởng chế độ thai sản của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 như sau:

1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lao động nữ mang thai;

b) Lao động nữ sinh con;

2. Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

Do thông tin bạn cung cấp không nói rõ bạn mang thai bao nhiêu tháng, khoảng thời gian bạn sẽ dự sinh do đó căn cứ theo quy định tại Điều 31 của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì bạn phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con thì bạn sẽ đủ điều kiện để hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật.

Liên hệ để được hỗ trợ nhanh nhất

Đăng ký tư vấn riêng