Hỏi đáp pháp luật Đất đai

  • Ban hành quyết định cưỡng chế sai thẩm quyền, xử lý thế nào?

    • 22/09/2015
    • Ls Nguyễn Thảo
    • Nội dung yêu cầu tư vấn: Tôi đã xây dựng nhà xong và đưa vào sử dụng năm 2010, trên phần đất vi phạm lộ giới, đến năm 2015 UBND phường đã kiểm tra và xử lý công trình của tôi.


    UBND quận căn cứ Điều 4 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ và căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 02/2014/TT-BXD ngày 12/02/2014 của Bộ Xây dựng, thì UBND phường đã ban hành Quyết định cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm của tôi.

    Theo tôi UBND phường ban hành Quyết định cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm của tôi là không đúng, vì công trình trên thuộc thẩm quyền ban hành Quyết định của UBND quận (không thuộc thẩm quyền của UBND phường), Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 6 và căn cứ Điều 65 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 do đó theo tôi UBND quận ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (do quá thời hiệu xử phạt VPHC).

    Tôi xin Công ty Luật TNHH Minh Gia trả hướng dẫn tôi về việc UBND phường ban hành Quyết định cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm của tôi là có đúng quy định hay không? Xin cảm ơn
     

    Ban hành quyết định cưỡng chế sai thẩm quyền, xử lý thế nào?
    Ảnh minh họa
     

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

    Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 121/2013/NĐ-CP thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng, quản lý phát triển nhà và công sở là 02 năm, kể từ ngày chấm dứt hành vi vi phạm hoặc phát hiện hành vi vi phạm. Đối chiếu với trường hợp của bạn, thì đây là trường hợp xử lý vi phạm hành chính khi đã hết thời hiệu.

    Bạn cho rằng việc UBND phường ban hành quyết định cưỡng chế tháo dỡ công trình xây dựng của gia đình bạn là không đúng thẩm quyền và đúng theo quy định của pháp luật. Để xác định có sự sai phạm trong trường hợp này hay không cần đối chiếu với quy định của pháp luật.

    Thứ nhất, về việc xử lý vi phạm hành chính khi đã hết thời hiệu theo quy định của pháp luật.

    Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định như sau:

    Điều 65. Những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

    1. Không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong những trường hợp sau đây:

    …c) Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 6 hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt quy định tại khoản 3 Điều 63 hoặc khoản 1 Điều 66 của Luật này;…

    2. Đối với trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng có thể ra quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này.

    Quyết định phải ghi rõ lý do không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; tang vật bị tịch thu, tiêu hủy; biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng, trách nhiệm và thời hạn thực hiện.”

    Điều 28. Các biện pháp khắc phục hậu quả và nguyên tắc áp dụng

    “…b) Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép;…”

    Như vậy, khi hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền vẫn được ra các quyết định để khắc phục hậu quả, trong đó có biện pháp buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép. Do vậy, trong trường hợp của gia đình bạn, tuy đã hết thời hiệu để xử phạt vi phạm hành chính song gia đình bạn vẫn sẽ bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái pháp luật.

    Thứ hai, về việc xác định “người có quyền” áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái pháp luật.

    Điều 2 Thông tư 02/2014/TT-BXD quy định như sau:

    “…2. Trường hợp hành vi vi phạm hành chính đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP thì xử lý như sau:

    a) Người có thẩm quyền lập biên bản theo Mẫu biên bản số 02 ban hành kèm theo Thông tư này và chuyển ngay đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có công trình vi phạm. Trong thời hạn 05 ngày (đối với công trình không phải lập phương án phá dỡ), 12 ngày (đối với công trình phải lập phương án phá dỡ) kể từ ngày lập biên bản mà chủ đầu tư không hoàn thành việc phá dỡ công trình vi phạm thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ trừ trường hợp quy định tại Điểm b Khoản này;

    b) Đối với công trình xây dựng thuộc thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng của Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Sở Xây dựng, người có thẩm quyền lập biên bản theo Mẫu biên bản số 02 ban hành kèm theo Thông tư này. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày lập biên bản, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có công trình vi phạm phải chuyển hồ sơ lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ công trình xây dựng vi phạm, chuyển cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện….”

    Như vậy, chỉ những công trình xây dựng thuộc thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng của UBND cấp huyện hoặc Sở Xây dựng thì UBND cấp xã mới không có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế. UBND cấp xã cấp giấy phép xây dựng cho những công trình “xây dựng nhà ở riêng lẻ tại những điểm dân cư nông thôn đã có quy hoạch xây dựng được duyệt thuộc địa giới hành chính do mình quản lý.” (Khoản 3 Điều 14 NĐ 64/2012/NĐ-CP). Bởi vậy, nếu công trình của gia đình bạn thuộc thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng của UBND xã thì chính UBND sẽ có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế buộc tháo dỡ công trình.

    Đặt giả thiết: công trình của gia đình bạn thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của UBND cấp huyện thì thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế là UBND huyện. Theo đó, quyết định cưỡng chế của UBND xã là trái thẩm quyền. Trong trường hợp này, khi phát hiện ra thì chính UBND cấp xã sẽ phải hủy quyết định trái thẩm quyền của mình. Nếu Chủ tịch UBND xã không hủy thì Chủ tịch UBND cấp huyện sẽ hủy bỏ quyết định đó. (Điều 127 Luật tổ chức HĐND và UBND 2003). Sau khi tiến hành hủy quyết định hành chính trái pháp luật, UBND cấp huyện vẫn tiến hành thủ tục để xử lý vi phạm hành chính đối với công trình gia đình bạn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 TT số 02/2014/TT-BXD

    Trong giả thiết này, bạn có thể gửi đơn khiếu nại đến UBND cấp xã về việc quyết định cưỡng chế ban hành sai thẩm quyền, để được xem xét và xử lý. Song việc cưỡng chế tháo dỡ công trình xây dựng trái pháp luật của gia đình bạn vẫn sẽ được tiến hành và chỉ khác ở chỗ cơ quan ra quyết định cưỡng chế.

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Ban hành quyết định cưỡng chế sai thẩm quyền, xử lý thế nào?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

     

    Trân trọng !
    Luật Gia: Nguyễn Thảo - Công ty Luật Minh Gia

    Hotline: 1900.6169