Đàm Minh Diệu

Tư vấn về việc phân chia dia sản thừa kế theo Bộ luật dân sự hiện hành

Nhà tôi có bố, mẹ và hai anh em đã thành niên. Anh tôi có một người con, anh tôi mất rồi sau đó bố tôi cũng mất không để lại di chúc.

Nội dung tư vấn: Xin chào quý Luật sư. Tôi có 1 vấn đề xin được tư vấn như sau. Gia đình vợ tôi gồm có cha mẹ vợ, 1 ông anh vợ và vợ tôi là hết, anh vợ tôi mất sớm chỉ để lại 1 đứa con gái, cha vợ tôi cũng bệnh mất sau đó một thời gian, cả 2 không để lại di chúc gì cả. Mẹ vợ tôi cùng vợ và cháu nội của bà 3 người có ra phòng công chứng làm thủ tục phân chia tài sản và bà cho tặng tất cả phần tài sản của bà cho vợ tôi. Sau cùng cả 3 cùng thống nhất tại phòng công chứng là cháu nội được hưởng 1/6 giá trị tài sản đó, cụ thể tài sản là căn nhà mẹ vợ và vợ tôi đã ở từ trước 75 đến nay, cháu nội tôi ở nới khác (Hoa Kỳ). Nay mẹ vợ tôi già yếu vẫn cùng vợ tôi cư ngụ trong căn nhà trên, người cháu về đặt vấn đề phân chia căn nhà đó. Vậy làm ơn cho tôi hỏi vợ tôi và mẹ vợ tôi có bắt buộc phải phân chia ngay tại thời điểm này theo yêu cầu của người cháu nội đó hay không? Và khi mẹ chúng tôi mất thì vợ tôi có phải phân chia tài sản đó ngay theo như yêu cầu của người cháu hay không? Vì căn nhà mẹ và vợ tôi vẫn ở từ xưa đến giờ và không có tài sản nhà để ở nơi khác. Sau này vợ tôi có còn được ở trong căn nhà đó cho đến khi mua được nhà khác để ở mới bán căn nhà trên rồi mới chia tài sản cho người cháu hay phải bắt buộc chia liền? Xin cám ơn Luật sư! Xin chào thành công!

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Khi anh vợ bạn mất: di sản của anh này sẽ chia cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất là bố, mẹ và con.

Khi bố vợ bạn mất: di sản sẽ chia cho vợ và 2 người con là anh vợ và vợ bạn. Do anh vợ của bạn chết trước bố mình nên con của người anh này (cháu nội của ông) sẽ hưởng phần di sản mà bố được nhận theo quy định về thừa kế thế vị tại Điều 652 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

“Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”

*/ Nếu căn nhà mẹ và vợ bạn đang sống là tài sản chung của ông bà thì ông và bà mỗi người một nửa tài sản:

+ Sau khi ông mất, cháu nội đã có thể đặt ra vấn đề phân chia di sản thừa kế với  phần di sản của ông ( nếu tài sản không chia được thì có thể chia thành tiền). Do đó, nếu cháu nội của ông yêu cầu phân chia căn nhà thì chỉ được chia di sản của ông và bố mình, còn bà nội chưa mất nên chưa thể yêu cầu phân chia tài sản của bà.

+ Khi chia di sản thì vợ bạn sẽ được nhận cả phần di sản của ông để lại.

*/ Nếu căn nhà là tài sản riêng của mẹ vợ bạn thì cháu nội chỉ được yêu cầu phân chia di sản của bà khi bà mất.

Khi mẹ vợ bạn mất và vẫn giữ di chúc cháu được 1/6 giá trị tài sản và vợ bạn được căn nhà, nếu di chúc hợp pháp đã được công chứng thì sẽ chia theo di chúc. Chỉ khi cháu nội chứng minh được di chúc không hợp pháp thì mới chia theo pháp luật là chia đều cho cháu và vợ bạn. Căn cứ theo Bộ luật dân sự 2015 thì di chúc hợp pháp cần điều kiện như sau:

“Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.”

Tóm lại, chỉ khi mẹ vợ bạn mất mà không để lại di chúc hay di chúc không hợp pháp thì cháu nội mới có quyền yêu cầu phân chia di sản của mẹ vợ. Nếu theo di chúc vợ bạn được nhận phần nhiều hơn thì vợ bạn sẽ sử dụng căn nhà và thanh toán tiền tương ứng với giá trị tài sản cháu nội bà nhận được. Do căn nhà là tài sản không thể phân chia nên theo thỏa thuận ai nhận căn nhà sẽ thanh toán cho bên kia bằng tiền theo giá trị tài sản được nhận. Tuy nhiên, đối với tài sản mà ông vợ bạn để lại thì hiện tại người cháu nội muốn yêu cầu chia vẫn có quyền yêu cầu chia phần di sản mà ông vợ để lại theo quy định, cho nên, nếu như phần di sản ông vợ để lại bao gồm cả phần diện tích ngôi nhà bạn đang ở thì có thể thỏa thuận với người cháu để yêu cầu trả tiền phần đất mà cháu được hưởng trong phần đất này.

Trân trọng.

CV tư vấn: Nguyễn Thị Nhung - Luật Minh Gia.

Gọi ngay