1. Trang chủ
  2.  › 
  3. Hỏi đáp pháp luật
  4.  › 
  5. Hỏi đáp Dân sự
  • Thời hiệu khởi kiện về thừa kế?

    • 05/12/2018
    • Phạm Diệu
    • Nội dung tư vấn: Luật sư cho hỏi, Bố mẹ tôi sinh được 5 người con: 4 gái, 1 trai út. Bố tôi mất năm 2003, khi đó đất ở của bố mẹ tôi chưa có sổ đỏ. Sau này làm sổ đỏ thì mang tên mẹ tôi. Bố tôi có để lại di chúc cho một cô con gái lúc đó chưa lấy chồng. Nếu không lấy chồng thì có quyền được ở chỗ đất đó nhưng không có người làm chứng, chỉ có chữ kí của bố tôi. Nhưng sau đó em gái tôi lấy chồng. Xin Luật sư tư vấn giúp các vấn đề sau:

     

    1. Đất ở sổ đỏ mang tên mẹ tôi có được là toàn quyền của mẹ tôi quyết định cho con nào thì cho hay không?

    2. Có người cho rằng mẹ tôi chỉ có quyền của một nửa diện tích mảnh đất đó và thêm 1/6 diện tích còn lại do được quyền thừa kế của bố tôi ( vì mẹ tôi và 5 chị em nên chia làm 6) là đúng hay sai?

    3. Bản di chúc của bố tôi đến bay giờ có còn giá trị pháp lí không?

    Rất mong sớm nhận được sự tư vấn của luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn.

     

    => Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế, thời hiệu khởi kiện về thừa kế, gọi: 1900.6169

     

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi đề nghị tư vấn đến Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

     

    Theo thông tin bạn cung cấp, mảnh đất này đã có từ thời điểm bố bạn còn sống do đó việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mẹ bạn có hợp pháp hay không cần xem xét hai trường hợp sau:

     

    Trường hợp 1: Nếu mảnh đất này là tài sản riêng của mẹ bạn

     

    Nếu mảnh đất này là tài sản riêng của mẹ bạn do mẹ bạn được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc do mẹ bạn dùng tiền riêng có trước thời kỳ hôn nhân để mua thì phần tài sản này được xác định là tài sản riêng của mẹ bạn. Khi đó, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mẹ bạn là phù hợp với quy định của pháp luật. Mẹ bạn có toàn quyền định đoạt đối với tài sản này.

     

    Trường hợp 2: Nếu mảnh đất này là tài sản chung của vợ chồng

     

    Nếu đây là tài sản chung của hai vợ chồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì phần tài sản này thuộc sở hữu chung của bố mẹ bạn, khi bố bạn mất phần tài sản này sẽ được chia đôi, bố bạn sở hữu ½ tài sản, mẹ bạn sở hữu ½ tài sản. Phần tài sản thuộc sở hữu của bố bạn sẽ được chia thừa kế theo di chúc (nếu có) hoặc theo pháp luật. Mẹ bạn sẽ không được định đoạt toàn bộ tài sản trong trường hợp này.

     

    Theo thông tin bạn cung cấp, trước khi mất bố bạn có để lại di chúc và không có người làm chứng, không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền do vậy để xác định di chúc của bố bạn có hợp pháp hay không cần căn cứ theo quy định tại Bộ luật dân sự 1995.

     

    Điều 655 Bộ luật dân sự 2015 quy định về di chúc hợp pháp như sau:

     

    “1- Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

     

    a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

     

    b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

     

    2- Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

     

    3- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

     

    4- Di chúc bằng văn bản không có chứng nhận, chứng thực như quy định tại Điều 660 của Bộ luật này chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.”

     

    Điều 658 Bộ luật dân sự 1995 quy định Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng như sau:

     

    “Người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc.

     

    Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 656 của Bộ luật này.”

     

    Điều 656 Bộ luật dân sự 1995 quy định về Nội dung của di chúc bằng văn bản như sau:

     

    “1- Di chúc phải ghi rõ:

     

    a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

     

    b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

     

    c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

     

    d) Di sản để lại và nơi có di sản;

     

    đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

     

    2- Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang, thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.”

     

    Do đó, nếu di chúc bằng văn bản không có người làm chứng của bố bạn đáp ứng được các nội dung đã nêu trên thì di chúc này được xác định là di chúc hợp pháp. Pháp luật không có quy định về di chúc được lập bao nhiêu lâu thì hết hạn mà chỉ có quy định về thời hạn yêu cầu phân chia di sản thừa kế.

     

    Tuy nhiên bạn, không cung cấp rõ thông tin cụ thể nội dung di chúc đó như thế nào do đó, nếu di chúc của bố bạn là hợp pháp và có thể hiện nội dung để lại tài sản cho người con gái út với nội dung nếu người con này không lấy chồng mới được hưởng thì tại thời điểm mở thừa kế nếu người con đó đã lấy chồng thì không đủ điều kiện để hưởng di chúc của bố bạn.

     

    Nếu di chúc không thể hiện rõ ràng điều kiện được hưởng di sản thì người nào có tên trong di chúc sẽ được hưởng di sản theo di chúc. Khi đó, mẹ bạn dù không có tên trong di chúc nhưng vẫn được hưởng một phần tài sản của bố bạn do mẹ bạn là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Nếu thuộc trường hợp này thì mẹ bạn sẽ được hưởng 2/3 của một suất thừa kế trước, phần còn lại sau khi chia cho mẹ bạn sẽ để cho người có tên trong di chúc hưởng.

     

    Nếu di chúc của bố bạn để lại được xác định là không hợp pháp thì phần di sản thừa kế của bố bạn sẽ được chia theo quy định của pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định.

     

    Pháp luật về thừa kế quy định những người thừa kế thứ nhất theo quy định bao gồm bố mẹ của người mất, vợ hợp pháp và tất cả các con. Những người cùng hàng thừa kế được hưởng một phần tài sản ngang nhau.

     

    ĐIều 623 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời hiệu thừa kế như sau:

     

    “1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

     

    a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

     

    b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.”

     

    Bố bạn mất năm 2003 do đó căn cứ theo quy định trên thì thời hiệu thừa kế đối với phần di sản của bố bạn vẫn còn. Khi đó, toàn bộ ½ tài sản của bố bạn sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định.

     

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ luật sư tư vấn trực tuyến - Số 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

     

    Trân trọng

    CV. Hương – Công ty luật Minh Gia

Bài viết nổi bật

TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN

Hỗ trợ miễn phí

 1900 6169