Phương Thúy

Mẹ tặng cho con quyền sở hữu nhà ở cần phải làm những thủ tục gì?

Tặng cho quyền sử dụng đất được đánh giá là một trong những quy định mang tính nhân văn được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Hoạt động này có thể diễn ra những người trong gia đình hoặc ngoài gia đình, miễn là tuân thủ theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng có nhiều trường hợp các chủ thế không biết hoặc hiểu sai quy định pháp luật dẫn đến việc xâm phạm quyền lợi của chủ thể khác.

1. Luật sư tư vấn.

Nếu bạn đang gặp khó khăn và cần sự trợ giúp từ đội ngũ luật sư, đừng ngần ngại hãy gửi câu hỏi cho chúng tôi hoặc gọi: 1900.6169  để được hỗ trợ. Mỗi thông tin mà bạn cung cấp là một trong những căn cứ để chúng tôi đưa ra lời khuyên phù hợp nhất với tình huống của bạn .

Bên cạnh đó, chúng tôi xin gửi đến bạn tình huống dưới đây để bạn tham khảo.

2. Quy định về tặng cho quyền sử dụng đất

Nội dung câu hỏi: Kính gửi:  Công ty Luật Minh GiaTôi  có một nội dung liên quan đến thủ tục cho tặng tài sản cần nhờ Công ty tư vấn: Mẹ tôi có 01 ngôi nhà muốn cho tôi, ngôi nhà này bà mua vào T04/2018 Bà có 02 người con là tôi và chị gái, Mẹ tôi ly hôn từ năm 1979, thời đó chỉ lên xã giải quyết ly hôn là xong, không có  giấy tờ ly hôn gì của tòa án. Mẹ tôi sống độc thân cho đến bây giờ.Vừa rồi, Tôi có lên Phường nơi mẹ tôi sống để xin Giấy xác nhận Tình trạng hôn nhân để làm thủ tục cho tài sản cho tôi (vì tôi đọc trện mạng thủ tục là phải có giấy này), Phường không cấp vì nói hôn nhân của mẹ tôi là hôn nhân thực tế vì giấy khai sinh của Tôi có tên ba (Tôi sinh năm 1978, 1 năm sau ông bà ly hôn). Mẹ tôi có con trong hộ khẩu nên không thể xác nhận độc thân.Xin cho tôi hỏi, giờ Mẹ tôi muốn cho tôi ngôi nhà trên thì phải làm những thủ tục gì vì Xin cấp Giấy xác nhận tình tạng hôn nhân không được.Trân trọng cám ơn.

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi những thắc mắc của bạn đến công ty Luật Minh Gia. Với những thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Theo như thông tin bạn cung cấp, năm 1979 bố mẹ bạn lên xã giải quyết ly hôn mà không có giấy tờ ly hôn của tòa án. Như vậy, việc ly hôn của bố mẹ bạn chưa có sự công nhận của Tòa án nhân dân nên quan hệ hôn nhân vẫn chưa chấm dứt. Bởi vì, năm 1979 việc ly hôn thực hiện theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 là phải có sự công nhận của Tòa án nhân dân, cụ thể quy định tại Điều 25 như sau:

“Điều 25:

Khi hai bên vợ chồng xin thuận tình ly hôn, thì sau khi điều tra, nếu xét đúng là hai bên tự nguyện xin lý hôn, Toà án nhân dân sẽ công nhận việc thuận tình ly hôn.”

Do vậy, thời điểm tháng 4 năm 2018, mẹ bạn mua nhà thì ngôi nhà đó được xác định là tài sản chung của bố mẹ bạn theo quy định về tài sản chung của vợ chồng tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Như vậy, Ngôi nhà mẹ bạn mua vào tháng 4 năm 2018 được xác định là tài sản chung của bố mẹ bạn nên trường hợp mẹ bạn muốn tặng cho bạn ngôi nhà thì phải có sự đồng ý của bố bạn. Do vậy, bạn cần liên hệ với bố bạn để làm được thủ tục tặng cho ngôi nhà.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Hotline: 1900.6169