LS Hồng Nhung

Đóng BHXH 15 năm 9 tháng có được hưởng lương hưu không?

Trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ thì phải bồi thường như thế nào? Sau khi chấm dứt HĐLĐ thì NLĐ đóng BHXH được 15 năm 9 tháng có được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội không? Luật Minh Gia tư vấn như sau:

Nội dung tư vấn: Em là nhân viên nhân sự cho công ty sản xuất đế giày. Bên công ty em có trường hợp công nhân đã hết tuổi lao động (nữ 55 tuổi) nhưng số năm đóng BHXH chỉ mới 15 năm 9 tháng (tính đến thời điểm hiện tại là tháng 6/2019). Vì công ty làm trong trường hợp môi trường bụi bặm và có mùi hôi nên công ty muốn chấm dứt hợp đồng lao động với những trường hợp này.

Nếu công ty muốn báo chấm dứt hợp đồng với trường hợp này có bị sai luật không, hoặc phải đền bù gì cho người lao động?

Mặt khác người lao động này có được nghỉ nhận lương hưu không?

Em xin cảm ơn nhiều.

Trả lời tư vấn: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, các vấn đề liên quan đến chấm dứt HĐLĐ:

Căn cứ thông tin bạn cung cấp, trường hợp công ty bạn muốn chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) với người lao động (NLĐ) thì có thể thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ hoặc thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ.

Trường hợp công ty và NLĐ thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động 2012 thì hai bên cần ghi nhận bằng văn bản để đảm bảo quyền lợi của các bên sau khi chấm dứt HĐLĐ.

Trường hợp công ty thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với người lao động thì việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải có căn cứ và thời hạn báo trước theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Lao động 2012 như sau:

“Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.”

Như vậy, đối chiếu với trường hợp của bạn nếu NLĐ không đồng ý thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ và công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không có căn cứ, không đảm bảo thời gian báo trước thì hành vi của công ty được xác định là đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Lao động 2012. Khi đó, công ty sẽ phải thực hiện trách nhiệm bồi thường do đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động 2012 như sau:

“Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Thứ hai, vấn đề liên quan đến chế độ hưu trí của NLĐ:

Để được hưởng chế độ hưu trí, NLĐ cần phải đáp ứng điều kiện theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 như sau:

“Điều 54. Điều kiện hưởng lương hưu

1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;”

Từ quy định nêu trên, đối chiếu với trường hợp của bạn có thể thấy thời gian đóng BHXH của NLĐ là 15 năm 9 tháng nên NLĐ chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng. Do đó, NLĐ có thể lựa chọn phương án tiếp tục tham gia quan hệ lao động và đóng BHXH tại doanh nghiệp đến khi đáp ứng đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí theo quy định pháp luật hoặc nghỉ việc, đóng BHXH tự nguyện để hưởng chế độ hưu trí. Theo đó, khi đóng BHXH tự nguyện, NLĐ có thể lựa chọn một trong các phương thức đóng theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Quyết định 595/QĐ-BHXH:

“Điều 9. Phương thức đóng theo quy định tại Điều 87 Luật BHXH và các văn bản hướng dẫn thi hành, cụ thể như sau:

1. Người tham gia BHXH tự nguyện được chọn một trong các phương thức đóng sau đây để đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất:

1.1. Đóng hằng tháng;

1.2. Đóng 03 tháng một lần;

1.3. Đóng 06 tháng một lần;

1.4. Đóng 12 tháng một lần;

1.5. Đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm một lần;

1.6. Đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người tham gia BHXH đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 10 năm (120 tháng) thì được đóng cho đủ 20 năm để hưởng lương hưu.

Ví dụ 1: Bà A tính đến tháng 3/2017 đủ 55 tuổi và có 15 năm 9 tháng đóng BHXH. Bà A có nguyện vọng tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện để đủ điều kiện hưởng lương hưu hằng tháng và lựa chọn phương thức đóng hằng tháng. Đến tháng 4/2017 bà A 55 tuổi 1 tháng và có 15 năm 10 tháng đóng BHXH. Tháng 5/2017 bà A lựa chọn phương thức đóng một lần cho 4 năm 2 tháng còn thiếu và đóng ngay trong tháng này. Như vậy, tính đến hết tháng 5/2017, bà A 55 tuổi 2 tháng và có 20 năm đóng BHXH, đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định. Thời điểm tính hưởng lương hưu của bà A kể từ tháng 6/2017.”

Khi đóng BHXH đủ 20 năm, NLĐ có thể làm hồ sơ, thủ tục để hưởng lương hưu hàng tháng.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng 

Phòng Luật sư tư vấn Luật Lao động - Công ty Luật Minh Gia.

Hotline: 1900 6169