LS Thanh Hương

Cộng nối thời gian đóng bảo hiểm để về hưu thế nào?

Luật sư tư vấn về cộng nối thời gian đóng BHXH bắt buộc và BHXH tư nguyện để hưởng chế độ hưu trí và thủ tục hưởng BHXH khi suy giảm khả năng lao động. Nội dung tư vấn như sau:

Câu hỏi: Chào anh chị công ty Luật Gia Minh ạ! Em xin phép hỏi về trường hợp người nhà e xin được về hưu như sau ạ. Dì em là công nhân vệ sinh môi trường và có chức danh độc hại, nặng nhọc nên 50 tuổi là có thể hưởng hưu.

Thứ 1: Dì em sinh tháng 1/1968 đến tháng 1/2018 dì mới đủ tuổi về hưu nhưng dì vẫn chưa đóng đủ 20 năm Bhxh vì Dì làm được 16 năm trong chức danh độc hại và còn 4 năm nữa mới đủ, Dì có thể đóng thêm 1 lần 4 năm tự nguyện ko ạ (thời điểm này dì chưa đủ 50 tuổi).

Thứ 2: nếu chưa đủ 50 tuổi và được đóng thêm 4 năm để đủ 20 năm rồi, dì có thể làm chế độ suy giảm khả năng lao động để về trước năm 2018 không ạ. Vì trước năm 2018 đối với nữ 15 năm là được 45% + mỗi năm thêm 3%. Nhưng sau năm 2018 đối với nữ 15 năm là được 45% + mỗi năm thêm 2%. Nên e muốn làm hồ sơ suy giảm lao động để nghỉ trước năm 2018 được không ạ. Kính mong anh chị giúp em và phản hồi với ạ. Xin chân thành cảm ơn các anh chị giúp đỡ ạ. Mong anh chị luôn gặp may mắn và tốt đẹp. Em xin thân chào ạ

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã lựa chọn tư vấn bởi Công ty Luật Minh Gia, chúng tôi xin tư vấn cho trường hợp của bạn như sau:

Pháp luật có quy định về điều kiện hưởng lương hưu tại Khoản 1, Điều 54 - Luật Bảo hiểm xã hội 2014 như sau:

Điều 54. Điều kiện hưởng lương hưu

1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;

b) Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên;

c) Người lao động từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò;

d) Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.

Theo đó, vì dì của bạn làm công việc nặng nhọc, độc hại và năm nay đã 50 tuổi nên đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật.

Thêm vào đó, theo quy định tại Điều 11 - Nghị định 115/2015/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành về tính thời gian đóng Bảo hiểm xã hội như sau:

Điều 11. Chế độ hưu trí đối với người trước đó có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện

Chế độ hưu trí đối với người trước đó có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Điều 71 của Luật Bảo hiểm xã hội được quy định như sau:

1. Thời gian tính hưởng chế độ hưu trí là tổng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm xã hội bắt buộc.

2. Người lao động có tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 20 năm trở lên thì điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu là nam đủ 60 tuổi và nữ đủ 55 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Khoản 5 Điều này....

5. Người lao động có từ đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trở lên thì:

a) Điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu được thực hiện theo các Khoản 1, 2 và 4 Điều 54, Điều 55 của Luật Bảo hiểm xã hội và Điều 6 của Nghị định này;

b) Mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương cơ sở, trừ đối tượng quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 2 của Nghị định này.

Như vậy, thời gian tính hưởng chế độ hưu trí là tổng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm xã hội bắt buộc. Do đó, khi dì bạn mới có 16 năm đóng BHXH bắt buộc thì có thể đóng thêm 4 năm bảo hiểm tự nguyện để thực hiện cộng gộp cho đủ 20 năm đóng bảo hiểm để đủ điều kiện hưởng chế độ về hưu trí.

Về vấn đề hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động, Luật Bảo hiểm xã hội có quy định tại Điều 55 như sau:

Điều 55. Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động

1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật này khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 54 của Luật này nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động. Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên;

b) Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

c) Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành.

Theo quy định của điều luật này, nếu dì của bạn bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có chứng nhận do Hội đồng giám định y khoa cấp thì sẽ đủ điều kiện để hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động. Như vậy, dì của bạn sẽ được nghỉ hưu sớm khi đủ 46 tuổi và được hưởng chế độ bảo hiểm trước năm 2018 theo quy định của Khoản 1, Điều 56 – Luật Bảo hiểm xã hội 2014:

“Từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành cho đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.”

Về Thủ tục và hồ sơ nghỉ hưu do suy giảm khả năng lao động, bạn có thể tham khảo bài biết của Công ty Luật Minh Gia tại bài viết tương tự sau đây:

>> Thủ tục và hồ sơ nghỉ hưu do suy giảm khả năng lao động

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ kịp thời.

Hỏi tư vấn qua điện thoại