LS Vũ Thảo

Có được cấp GCNQSDĐ khi được quân đội giao đất không?

Pháp luật quy định như thế nào về các trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Nếu đất được quân đội giao dất thì người sử dụng đất có được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Người sử dụng đất cần làm gì để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mình trên mảnh đất được giao? Trường hợp phát sinh tranh chấp đất đai thì cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết?

1. Luật sư tư vấn về trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

 

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai và hướng dẫn tại các văn bản pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào người sử dụng đất cũng được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, hệ thống văn bản quy định liên quan về vấn đề này khá rộng, do đó thực tế người sử dụng đất và cơ quan nhà nước còn gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng quy định pháp luật dẫn đến những trường hợp cấp GCNQSDĐ sai đối tượng, sai thẩm quyền,... 

 

Để giải đáp những thắc mắc liên quan đến việc cấp GCNQSDĐ hoặc những vấn đề thuộc lĩnh vực đất đai thì bạn có thể gửi câu hỏi cho chúng tôi hoặc Gọi1900.6169 để được hướng dẫn tư vấn. 

 

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo tình huống chúng tôi tư vấn sau đây để có thể thêm kiến thức pháp luật các trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 

2. Đất được quân đội giao có được cấp GCNQSDĐ không?

 

Câu hỏi: Thưa Luật sư tôi sinh năm 1978, đi bộ đội năm 1997, đến năm 2007 sau hơn 10 năm công tác trong Quân đội tôi được cấp trên cấp 01 mảnh đất 150m vuông. Tuy nhiên Quyết định cấp đất lại ghi cấp năm 1993 khi đó tôi chưa đủ 18 tuổi, tôi không biết nội dung này. Khi cấp đất là tháng 11/2007, lúc đó tôi đã hơn 29 tuổi. Trên mảnh đất tôi được cấp có 01 hộ dân khai hoang. Vậy tôi xin hỏi trường hợp của tôi gửi Tòa án nhân dân huyện giải quyết có được không, quyền lợi của tôi có được bảo đảm không, nhờ LS tư vấn, xin trân trọng cảm ơn.

 

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới công ty Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Căn cứ theo Khoản 4 Điều 50 Nghị định 43/2014 quy định đất do các đơn vị vũ trang nhân dân đang quản lý, sử dụng nhưng không thuộc quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh đã được phê duyệt thì phải bàn giao cho địa phương quản lý và xử lý như sau:

 

“a) Đối với diện tích đất đã bố trí cho hộ gia đình cán bộ, chiến sỹ thuộc đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng làm nhà ở phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt thì người sử dụng đất ở được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;

 

b) Đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp do các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh đang sử dụng thì phải chuyển sang hình thức thuê đất theo phương án sản xuất, kinh doanh đã được Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an phê duyệt;

 

c) Đối với diện tích đất không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất để giao, cho thuê sử dụng theo quy định của pháp luật.”

 

Như vậy, trường hợp diện tích đất đã bố trí cho chiến sỹ thuộc đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng làm nhà ở phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt thì người sử dụng đất ở được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác thì phải bàn giao lại đất cho UBND. Sau đó UBND sẽ thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của luật đất đai.

 

Theo thông tin bạn cung cấp thì năm 2007 bạn được quân đội giao đất sử dụng, nhưng thời điểm ghi trên quyết định giao đất là năm 1993. Hiện nay trên mảnh đất đó có 01 hộ dân khai hoang sử dụng. Tuy nhiên, chúng tôi không có thông tin cụ thể Quyết định giao đất của bạn, do đó chưa thể xác định bạn có căn cứ để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không.

 

Trường hợp phát sinh tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết theo Điều 203 Luật đất đai 2013. Cụ thể:

 

“1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

 

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

 

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

 

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;”

 

Như vậy, nếu các bên hòa giải tại UBND cấp xã mà không thành thì bạn có thể nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận, huyện nơi có đất để giải quyết tranh chấp đất đai.  

Hotline: 1900 6169