LS Nguyễn Mạnh Tuấn

Bồi thường đất đai khi Nhà nước thu hồi

Kính chào luật gia! Nhà Dì tôi đang nằm trong dự án nâng cấp đô thị. Ngày 10/11/2015 Dì tôi có nhận thông báo bồi thường số 1128/TB-HĐBT của Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư thuộc UBND Thành Phố với mức hỗ trợ bồi thường là 82.044.460 đồng. (Chỉ bồi thường vật liệu xây dựng). Mà không có bồi thường đất cho Dì tôi.

 

Khi họp dân tại phường, Dì tôi có hỏi "Tại sao không bồi thường đất", thì ở phường bảo "Sẽ bồi thường sau, "Khi ra nơi Dự án hỏi, thì được trả lời "Phải trong diện giải tỏa trắng, mới được bồi thường cả đất". Đất nhà Dì tôi chưa có quyền sử dụng đất, nhưng có giấy tờ trước năm 1993 , do phần đất đó dính liền với phần đất còn đang tranh chấp. Xin hỏi luật gia , trong trường hợp này Dì tôi có được bồi thường đất không? Và nếu được bồi thường đất thì Dì tôi phải làm thế nào nhận phần bồi thường đó? Mong được  tư vấn của luật gia. Tôi xin chân thành cảm ơn.

 

Trả lời tư vấn: Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi tới Luật Minh Gia, với thắc mắc của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Thứ nhất, vấn đề bồi thường khi thu hồi đất

 

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 75 Luật Đất Đai 2013 quy định về điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau:

 

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

 

Đất của gia đình dì bạn chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã sử dụng và có giấy tờ trước năm 1993 nên căn cứ theo quy định tại Khoản 1,2 Điều 101 Luật Đất đai 2013:

 

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng ổn định, không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất;

 

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

 

Như vậy, căn cứ theo các quy định này thì dì bạn có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu xác định được nguồn gốc đất, đất được sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Khi đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sủ dụng đất mà chưa được cấp thì phần đất đó sẽ được bồi thường.

 

Thứ hai, thủ tục để nhận bồi thường

 

Trong trường hợp việc bồi thường thu hồi đất không thỏa đáng, dì bạn không đồng ý với quyết định bồi thường thì có thể khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền. Việc giải quyết khiếu nại về đất đai được quy định tại Điều 204 Luật Đất Đai 2013:

 

1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

 

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

 

Khoản 3 Điều 7 Luật khiếu nại 2011 quy định về trình tự khiếu nại như sau:

 

3. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Như vậy, nếu dì bạn không đồng ý với mức bồi thường như thế và muốn được nhận bồi thường thì làm đơn khiếu nại về quyết định bồi thường đó và gửi lên Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng !
CV tư vấn: Nguyễn Nhàn - Luật Minh Gia

Hotline: 1900 6169