Vũ Thanh Thủy

Bị vợ cũ của bạn trai xúc phạm danh dự, nhân phẩm

Luật sư tư vấn về trường hợp bị bị người khác có những lời nói, hành vi xúc phạm danh dự, uy tín và nhân phẩm thì xử lý thế nào? Cụ thể như sau:

 

Cháu hiện nay 23 tuổi, Tháng 11/2015 cháu có quan hệ tình cảm với một người đàn ông, người này có hai đời vợ, lúc quen nhau cháu xác định giấy chứng nhận tình trạng độc thân của người này là đã li hôn từ tháng 4/2015. Đến lúc chia tay là tháng 3/2015 thì người này vẫn chưa đăng kí kết hôn với ai. Trong khoảng thời gian quen nhau, người này có qua lại và ở với người vợ cũ, sau đó cháu biết được nên quyết định chia tay. Đến ngày 6/8/2017, người đàn ông này đến nơi cháu ở tìm cháu nhưng cháu không chịu tiếp, ngày hôm sau thì người phụ nữ được cho là vơ thứ hai của anh ta đến phòng tìm cháu trong lúc cháu không có ở phòng. Cô ấy đến nói với mọi người ở xung quanh cháu, là cháu giật chồng, và nói là hôm nay đến là để hỏi T đã phá thai chưa. Trong khi cháu không hề có thai và đã chia tay gần một năm rưỡi. Sau đó cô ấy về nhắn tin cho cháu và liên tục xúc phạm danh dự và nhân phẩm của cháu, như "gái", "đĩ", "giật chồng", và hâm doạ là sẽ còn phá cháu và không để cháu yên, khi cô ấy biết rõ cháu quen người đàn ông này là luac anh ta độc thân. Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, cuộc sống và việc học của cháu. Trong khoảng thời gian hơn một năm chia tay cháu không hề liên lạc người đàn ông này, cháu đã nhắn tin nói chuyện tử tế với chị, nhưng chị này không nghe và cãi ngang, cứ cố tình xúc phạm cháu và bôi nhọ danh dự cháu trước hàng xóm của cháu. Tất cả tin nhắn lăng mạ cháu còn giữ. Vậy luật sư cho cháu hỏi, cháu có thể làm đơn tố cáo người phụ nữ này với tội danh xúc phạm danh dự và nhân phẩm người khác không? Và thủ tục tiến hành khởi kiện như thế nào? Cháu chân thành cảm ơn!

 

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tới Công ty Luật Minh Gia, với tình huống của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

 

Theo quy định của pháp luật thì danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Như thông tin bạn cung cấp thì người vợ thứ hai thường xuyên đến nơi bạn ở có những lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bạn bởi cho rằng bạn đã qua lại với chồng cũ của chị này. Tuy nhiên, khi anh này quen bạn thì người yêu cũ của bạn đã ly hôn tức là hiện tại hai bên không còn quan hệ hôn nhân nên người vợ thứ hai không có căn cứ để cho rằng bạn là người phá hoại hạnh phúc của gia đình cô đấy. Nếu không có căn cứ mà người vợ này vẫn có những hành vi, lời lẽ bội nhọ danh dự, nhân phẩm của bạn thì có thể bị xử lý theo những trường hợp sau đây:

 

Thứ nhất, về chế tài hình sự

 

Căn cứ khoản 1 Điều 121 Bộ luật Hình sự 1999 quy định:

 

“Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.”

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

 

Như vậy, theo quy định trên, người nào có hành vi, lời nói nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người khác thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội làm nhục người khác. Đối với hành vi của người vợ thứ hai thường xuyên có những tin nhắn có lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bạn, ngoài ra còn đến nơi bạn để làm phiền, bôi nhọ bạn trước hàng xóm. Khi xem xét hành vi trên thì căn cứ quy định tại Điều 121 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009 bạn cần phải có chứng cứ chứng minh việc chị này xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của bạn thông qua những tin nhắn mà chị đó gửi cho bạn hoặc những người hàng xóm của bạn làm chứng; có chứng cứ thì bạn mới có thể trình báo lên cơ quan công an.  

 

Về việc yêu cầu xử lý hành vi vi phạm

 

Tại Khoản 1 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.”

 

Như vậy, đối với tội làm nhục người khác theo Điều 121 BLHS thì yêu cầu khởi tố là điều kiện bắt buộc, do đó, để được bảo vệ quyền lợi thì bạn cần làm đơn yêu cầu khởi tố gửi đến cơ quan điều tra - Công an cấp huyện. Khi bạn tiến hành nộp đơn thì cần phải cung cấp đầy đủ chứng cứ cho bên cơ quan điều tra để họ tiến hành xem xét và thụ lý.

 

Thứ hai, về xử phạt vi phạm hành chính

 

Trong trường hợp hành vi của người phụ nữ kia chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bạn có quyền làm đơn tố cáo hành vi của người đó gửi ra công an khu vực, nếu đủ cơ sở chứng minh, tùy theo mức độ, hành vi của người hàng xóm có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

 

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

 

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

 

- Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;”

 

Thứ ba, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi danh dự, nhân phẩm bị xâm hại

 

Tại Điều 592 Bộ luật dân sự 2015 quy định Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm:

 

"1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

 

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

 

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

 

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

 

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."

 

Người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác sẽ có trách nhiệm bồi thường theo quy định trên.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng.
CV tư vấn: Đào Thị Trà - Luật Minh Gia

Hotline: 1900 6169