Hoàng Tuấn Anh

Xin luật sư tư vấn về khởi kiện đòi tiền

Tôi có người bạn vay tôi 100 triều đồng từ tháng 1 năm 2014, với lãi suất tự thỏa thuận hẹn đến 24 tháng 1 năm 2015 sẽ trả nhưng cho đến nay người đấy cứ lấy rất nhiều lý do để khất lần, lúc thì nói là cho người nọ người kia vay lãi suất cao, lúc thì lấy lý do là ốm đau.

 

Cho đến nay đã hơn 2 năm rồi vần không trả. vì phải đi hàng 40 km để đòi tiền rất nhiều lần đều bị lấy lý do và không trả tiền (Giấy vay tiền do đích thân bạn tôi viết). Theo luật sư tôi có thể viết đơn kiện để lấy lại số tiền người đó mượn được không và nếu kiện thì với tội danh gì ạ? quy định và thủ tục thế nào? Rất mong được tư vấn của luật sư.

 

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới công ty Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Dựa trên thông tin bạn đưa ra, trường hợp này chưa có dấu hiệu hình sự mà chỉ là quan hệ dân sự nên bạn có thể gửi đơn khởi kiện ra tòa án dân sự để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điều 4 Khoản 1 quy định về Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác”.

 

Tranh chấp giữa bạn và người bạn kia là tranh chấp từ hợp đồng dân sự, cụ thể là hợp đồng vay, mặc dù hai người không ký kết hợp đồng vay nhưng người bạn đã viết giấy vay tiền thể hiện sự cam kết và thỏa thuận đã vay số tiền 100 triệu đồng từ bạn. Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điều 26, những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án là:  

 

“1. Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân.

 

2. Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.

 

3. Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.

 

4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này.

 

5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.

 

6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

 

7. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính.

 

8. Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước.

 

9. Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng.

 

10. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí.

 

11. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

 

12. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

 

13. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

 

14. Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật”

 

Tranh chấp giữa hai người thuộc Khoản 3 Điều 26 nêu trên.

 

Về thời hiệu khởi kiện, hiện nay Nghị quyết số 103/2015/QH13 thi hành Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Điều 2 quy định “Đối với các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động phát sinh trước ngày 01 tháng 01 năm 2017 thì áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 159 và điểm h khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự số 24/20004/QH đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12”. Theo đó, Điều 159 Khoản 3 Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi bổ sung 2011 quy định như sau: “Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì thực hiện như sau: 

 

a) Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện; 

 

b) Tranh chấp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”

 

Như vậy, trong trường hợp bạn muốn đòi lại số tiền đã cho vay thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Trong trường hợp bạn muốn lấy lại lãi suất thì sẽ thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung 2011 nêu trên. Lúc đó bạn có thể yêu cầu tòa xác định thời hiệu hoặc thỏa thuận với bên kia về việc trả lãi suất. Nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn, bên kia sẽ phải trả lãi suất như đã cam kết. Ngoài ra vì đây là hợp đồng vay xác định thời hạn, căn cứ theo Điều 474 Khoản 5 Bộ luật dân sự 2005: “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”. Do đó, bạn có quyền yêu cầu bên vay phải trả lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ theo quy định trên.  

 

Về lãi suất, do bạn không nêu rõ lãi suất nên chúng tôi không thể xác định bạn cho vay nặng lãi hay không. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 thì : “lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. 

 

Về cấp tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện, căn cứ Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điều 35 Khoản 1 Điểm a quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện như sau: “1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây: a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại Khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này”

 

Hơn nữa, Điều 36 Khoản 1 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định thẩm quyền của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp huyện là: “1. Tòa dân sự Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật này.”. Như vậy, cấp tiếp nhận đơn khởi kiện của bạn trong trường hợp của bạn là Tòa dân sự thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện (tương đương với Tòa án nhân dân cấp quận)  

 

Về nơi tiếp nhận đơn khởi kiện, Điều 39 Khoản 1 Điểm a Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:

 

  1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

 

  1. Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này”

 

Tóm lại, Tòa dân sự thuộc Tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi người bạn kia cư trú, làm việc là cơ quan tiếp nhận đơn khởi kiện của bạn.

 

Tuy nhiên, Điều 39 Khoản 1 Điểm b cũng quy định: “Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này”. Tức là bạn và người bạn kia có thể tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản Tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi bạn cư trú, làm việc hay nơi người bạn kia cư trú, làm việc sẽ là cơ quan giải quyết tranh chấp.

 

Về thành phần hồ sơ sẽ bao gồm:

 

+ Đơn khởi kiện (theo mẫu)

 

+ Giấy tờ vay nợ và các tài liệu khác (nếu có)

 

+ Giấy xác nhận của cơ quan nhà nước về địa chỉ cư trú, làm việc của bị đơn

 

+ Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người khởi kiện

 

Về thủ tục thụ lý và thời hạn giải quyết, sau khi nhận hồ sơ khởi kiện, Tòa án thông báo cho người khởi kiện nộp tạm ứng án phí trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo.

 

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Xin luật sư tư vấn về khởi kiện đòi tiền. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng

 

 

CV. Chu Hoàng Hải - Công ty Luật Minh Gia 

Hotline: 1900 6169